Thiết nghĩ rằng ai cũng biết A-dục-vương (tức Asoka), cũng được gọi là Candàsoka (Asoka hung bạo) vì tính chất bạo tàn của ông dùng thanh gươm để lên ngôi Hoàng đế và thâu tóm thiên hạ. Sử sách có ghi rằng, sau khi thân phụ ông qua đời, ông đã giết 99 trong số 101 người anh em của mình, chỉ còn sót lại một mình Tissa - một người em trai cùng mẹ, người sau này xuất gia và chứng A-la-hán quả, nghiễm nhiên lên ngôi Hoàng đế. Sau đó, dùng thanh gươm máu để cai trị thiên hạ(2).
Vào những năm đầu của triều đại mình, để củng cố thêm vương quốc, Asoka đã mở chiến dịch đánh chiếm xứ Kalinga (nay là Orissa). Trong cuộc chiến, 10 vạn người bị giết, 15 vạn bị bắt. Cảnh tang tóc của chiến tranh đã làm cho Asoka vô cùng hối hận, và từ đó về sau trở thành một Phật tử thuần thành. Sử ghi rằng, chính Tôn giả Moggaliputta Tissa (Mục Liên Đế Tu Tôn Giả) là người cải đạo cho nhà vua. Và từ đó ông thắm nhuần tam quy, ngũ giới và trở thành một vị Ưu-bà-tắc (upàsaka) phụng sự đạo pháp, nên cũng có tên là: Dhammàsoka (Asoka mộ đạo). Là một Hoàng đế Phật tử, ông đã làm mọi thứ để ngăn không cho bất kỳ tôn giáo nào bành trướng cả. Ngưng bố thí thức ăn cho Bà-la-môn, thay vào đó là dâng cúng thực phẩm hằng ngày cho 60.000 vị tỳ kheo, xây dựng 84.000 ngôi tịnh xá ở 84.000 thị trấn, xây dựng các ngôi bảo tháp và dựng trụ đá, bia ký ghi lại những nơi đức Phật đã viếng thăm(3).
Sự thành kính quy y Phật của ông đã đem lại sức sống mới cho các tu viện và chùa chiền Phật giáo. Các vị tu sĩ sống rất sung túc, đều dưới sự bảo trợ của hoàng gia. Các tu sĩ đạo giáo khác đã bỏ đạo mình thờ, quy y Phật nhằm mục đích lợi dưỡng hơn là tu học. Tuy họ sống trong Tăng đoàn nhưng vẫn thuyết giảng và đàm thoại với nhau lý thuyết của chính đạo họ. Điều đó đã tạo nên những dị biệt, dị giáo trong lòng Tăng già. Dần dần, số tu sĩ dị giáo nhiều gấp nhiều lần tu sĩ Phật giáo. Kết quả là qua 7 năm, các tu viện và chùa chiền không tổ chức lễ Bố tát và an cư. Cũng vì sự chia rẻ này mà Tôn Giả Moggaliputta Tissa đã lên núi Ahoganga và ẩn cư 7 năm. Những tỳ kheo chân thật không muốn bố tát chung với những tỳ kheo dị giáo. Tình trạng chia rẽ trong Tăng già đã khiến cho Hoàng đế Asoka lo lắng. Ông đã hành động để chấn hưng lại tình trạng mất đoàn kết này bằng cách ra chỉ thị cho các tu viện phải tổ chức lễ Bố tát.
Vị sứ giả được nhà vua sai khiến đã không hiểu ý, cho nên đã giết một số lượng lớn tu sĩ không chấp hành chỉ thị tổ chức Bố tát ở các tự viện. Sự việc kinh hoàng này đến tai vị Hoàng đế, ông đã tỏ ra ăn năn vì sự hiểu lầm không đáng có này. Ông đã trực tiếp xuống thỉnh tội với các nhà sư, rằng ông có tội hay không với hành động như vậy. Những vị tu sĩ chân chính thì nói không, tu sĩ dị giáo thì nói có, đức Vua rối bời. Ông hỏi cận thần của mình và được khuyên nên thỉnh ý của Tôn giả Moggalliputta Tissa. Ngay lập tức, Ông cho mời trưởng lão đến thành Pataliputra để yết kiến. Hoàng đế đã dành những nghi lễ cao quý nhất để đón tiếp bậc cao Tăng. Sau đó, nhà vua hỏi vị trưởng lão liệu rằng mình có tội mưu sát hay không khi thông qua người thừa hành. Vị Tôn giả trả lời: không có tội khi hành động là ý tốt(4). Nhà vua mãn nguyện với câu trả lời này.
Tôn giả đã thuyết pháp cho nhà vua nghe và cùng ông đi chiêm bái và lễ lạy những thánh tích của đức Phật trong một tuần lễ. Sau đó, nhà vua triệu tập hội nghị Tăng già. Ông cho gọi những Tỳ kheo ở các bộ phái khác nhau đến và hỏi họ về giáo Pháp của đức Thế Tôn. Kết quả là hơn 6000 tu sĩ dị giáo bị loại khỏi Tăng già và đuổi họ về với gia đình. Số còn lại, đức vua xác nhận một lần nữa về giáo lý Vibhajjvàda(5), khi Tôn giả Moggalliputta Tissa gật đầu đồng ý, nhà vua đã yêu cầu Tăng già làm lễ Bố tát để cộng đồng Tăng già có thể trong sạch trở lại. Tôn giả Moggalliputta Tissa đứng ra làm chủ tọa buổi Bố tát này.
Sau buổi Bố tát này, Tôn giả Moggalliputta Tissa đã tuyển chọn 1000 vị tỳ kheo thông tuệ nhất để kiết tập lại kinh điển. Sau 9 tháng làm việc, Tam tạng Kinh điển đã được kiết tập lại một cách hoàn mãn. Lần kiết tập này được tổ chức tương tự theo cách và lòng nhiệt huyết như hai kỳ kiết tập của ngài Mahàkassapa (Kiết tập Lần thứ I) và ngài Thera Yasa (Kiết tập Lần thứ II). Và cũng trong kỳ kiết tập này, Tôn giả Moggalliputta Tissa đã soạn bộ luận nổi tiếng Kathavathu Pakarana, nội dung bài xích các giáo lý tà đạo.
Một trong những kết quả to lớn nhất của kỳ Kiết tập Kinh điển Lần thứ III này là sau đó đã phái nhiều đoàn truyền giáo tới các nước khác nhau trên thế giới để truyền bá Chánh pháp. Chúng ta cũng được biết, Hoàng đế Asoka đã gởi nhiều phái đoàn đến các nước vùng châu Á, châu Phi, châu Âu. Cũng chính ông, đã gởi hai người con trai và gái xuất gia của mình là Tỳ-kheo Mahinda và Tỳ-kheo Ni Samghamittà sang
(5) “Phân Biệt Kinh”
(4) Dr.K.T.S. Sarao, A text book of the history of Theravafda Buddhism, 1st edition,
(1) Dr.K.T.S. Sarao, A text book of the history of Theravafda Buddhism, 1st edition,
(2) Vincent A Smith, Asoka the Buddhist Emperor of



