Tôi không nhớ rõ ngày nào trong một tháng cuối năm 1980. Mẹ tôi bảo rằng con giúp Mẹ mang cháo lên chùa cho Thầy. Con chẳng biết chùa nào là chùa Kỳ Viên, Mẹ bảo chùa núi đấy con, cứ đi qua đường là tới cổng và đi lên núi vào sâu bên trong sẽ gặp Thầy, khi qua đường cẩn thận xe cộ. Thế là tôi thừa lệnh mang cháo đi, chẳng có một chút gì sợ hãi hay lo lắng, làm như mình quá quen thuộc với công việc và người này, mặc dầu tôi chưa bao giờ bíêt Thầy là ai, lúc bấy giờ tôi còn rất xa lạ với hình bóng của chùa và các Thầy.
*-*
Lên dốc đúng mệt, mệt không phải là cao, cao cái gì chưa đầy trăm bậc cấp, tuổi nhỏ lúc nào cũng thừa máu anh hùng. Dốc đứng đầy sỏi lỏm chỏm, gai những bụi cỏ dại hai bên lấn lề làm con đường dốc bị thu hẹp, lạng quạng là vướng áo ngay, mà đúng thật mới nghĩ tới là vướng liền đầy áo, bởi cái tính ngắm mây, ngắm cảnh, nhìn trời, nhìn đất của tôi. Nào là hàng cây dừa xanh nối đuôi nhau trong làng gió thổi dài vun vút, dựa lưng một vách núi trọc, đầy đá lỗm chỗm, nhìn kỹ lưỡng sẽ thấy có nhiều hình thù kỳ lạ, càng nhìn càng thấy núi mạnh mẽ, vững chãi, liền núi một con sông nhỏ uốn cong, chỗ rộng chỗ hẹp, trên làn nước vài chiếc thuyền nhỏ đưa người qua Cồn, chẳng biết cái Cồn ít dân nhiều cây cối đó tên gì, hình như Ngọc Hộ hay là Ngọc Hội gì đó, con nít mà sao biết hết được. Nhìn nữa thấy Tháp Bà xa xa, mờ ảo một ngọn tháp nhọn, mang dấu ấn lịch sử Chămpa kỳ tích. Hòn Chồng thì có nhiều thần thọai gắn liền Suối Tiên, xa hơn là núi Cô Tiên nằm dài xõa tóc nữa chứ, bấy nhiêu đấy cũng đủ để cho các anh lính sĩ quan thông tin nhớ nhà, nhớ người yêu sầu muộn ngóng trông, trước mắt là một dãi nước xanh biếc, êm ả vào mùa hè người ta gọi đó là biển, trên biển có nhiều đảo lớn và hòn đảo nhỏ, ngày xưa thấy rõ nhất vẫn là Hòn Rùa, hình thù giống con rùa, rồi Hòn Đỏ có chùa Từ Tôn, rồi Hòn Vợ, hòn Con đủ chuyện đủ trò hết. Đứng trước cổng tam quan của chùa, nếu ai đó đưa mắt nhìn một cách tổng quát, quả thật đây là một bức tranh tuyệt tác giữa thiên nhiên và con người hòa hợp dâng tặng cho cuộc sống. Chấm dứt mộng mơ núi cao biển bạc, sơn thủy hữu tình.
*-*
Tôi tiếp tục đi vào và nhớ rằng trên tay mình một giỏ nào chén, muỗng, đũa, cháo mang dâng Thầy. Càng đi sâu vào càng sợ, sợ ghê vài trăm thước mà đường dài ghê gớm, sợ như chưa từng sợ, con nít có đi đâu lên núi kiểu này một mình. Càng đi sâu vào càng lạnh tóc gáy, chim kêu cũng sợ, lá rụng cũng sợ, chân này đạp đá, chân kia đạp sỏi đủ thứ sợ hết, tưởng đâu có ai đi theo sau lưng, cứ trông ngóng mong có tiếng người, nhưng lỡ rồi thì đi vào chứ sao bây giờ, chẳng lẽ chạy xuống, đi vào sâu bên trong nữa, một vành đai bờ thành cũ kỹ, cao gần 02 mét, xây bằng gạch ống kiểu xưa, rêu phong khép kín ngăn hòn núi này làm hai khu vực trước và khu sau, chỉ có một lối đi vào độc nhất nhỏ hẹp, bề ngang chưa đầy một thước. Một ý niệm xảy ra trong đầu, nhớ rằng cây mít đâu đây từng có Bà già giữ chùa leo lên hái trái mít thế nào mà té xuống chết. Ghê quá. Mẹ ơi sao bảo con đi kiểu này. Bây giờ mới biết giận Mẹ hết sức. Nhưng vẫn mạnh dạn đi vào, đi vào nữa bên trong căn nhà cũ lụp xụp hiện ra có hai phòng, chính giữa làm bàn thờ đèn dầu leo loét, tối om, một cái bàn vài cái ghế dựa gỗ gọi là phòng khách cho oai, để các Thầy tiếp khách. Phía bên ngòai trước nhà Tăng có cái chuông lớn để đánh sớm tối, bên cạnh là nhà bếp lụp xụp, lại cũ kỹ hơn nhiều, màn nhện quấn quýt phủ đầy nữa chứ.
Trong phòng nhỏ, Thầy nằm trên giường cũng nhỏ đang bệnh, đắp chăn. Tôi mạnh dạn nói ấm ớ. Thầy! Mẹ con bảo mang cháo lên Thầy ăn. Thầy nhìn, cười, ngồi dạy ăn cháo, nói bâng quơ vài điều gì đó tôi không nhớ hết, vừa ăn vừa nói, vừa hỏi chuyện học, chuyện đi chơi, đá banh của tôi. Rồi Thầy bảo, tối nay con lên ngủ lại với Thầy cho vui. Tôi trả lời đại cho xong khỏi phải suy đi nghĩ lại làm gì mệt óc, dạ. Thầy ăn cháo xong tôi xách giỏ ra về, gặp và nói với Mẹ, lúc đó Ba đi làm chưa về, tối nay con lên chùa ngủ với Thầy. Mẹ nhìn tôi, không biết có thiệt tin lời nói của tôi hay không. Nhưng thấy Bà vui và chuẩn bị cặp vở cùng tôi lên chùa để tôi ngủ lại với Thầy. Đêm đó, tôi ngủ thật ngon trên chùa bên cạnh một người lạ, trong nỗi lo âu và ngại ngùng. Hôm sau, chiều đến tôi lại chuẩn bị lên chùa ngủ với Thầy trong niềm hớn hở, nhưng Ba hỏi đi đâu? Ở nhà học bài để ngày mai đi học, không ai trong nhà dám nói gì, chẳng có mặt của Mẹ, đêm đó tôi không được lên chùa ngủ, tiếc thiệt nhớ cái gì đó, tuổi nhỏ bắt đầu biết nhớ.
Trong lòng lại cứ băn khoăn suốt ngày hôm sau, cảm thấy nhớ chùa thật sự, thấy lòng mình có gì thiếu vắng, có cái gì thôi thúc, hình như chùa là nơi chốn của mình phải đến, phải lên chùa ở với Thầy. Thế là, chiều lại khăn gói, ôm gọn sách vở, kỳ này thì có luôn cả áo quần, Ba lại cản ngăn, Mẹ bảo con nó lên chùa đi học cũng được có Thầy dạy cho học, Ba nghe lọt tai và cho đi. Thế là nhân duyên hội ngộ đã đến và từ đó ngôi nhà của tôi gắn bó từ khi sinh ra không còn là nơi chốn cho tôi gửi tấm thân này mà chính là ngôi chùa. Tin tức tôi ở chùa với Thầy được truyền đi rất nhanh, sốt dẻo, nhanh hơn là con nít nghe đánh trống lân là ào ạt chạy tới xem và muốn nhảy trong cộng đồng xóm làng, Phật tử ai cũng ngạc nhiên, vì đâu quá đơn giản. Vì tôi là một thằng nhỏ ngỗ nghịch, chẳng nghe lời Cha Mẹ, Anh Chị, thích ở ngòai đường hơn bị nhốt trong nhà, ham chơi hơn ham học và thích đá banh hơn là cặp sách tới trường, thích làm cầu thủ hơn là học sinh, vậy mà bây giờ chịu ở chùa, đi tu.
*-*
Ngày tháng trôi qua, cuộc sống các Thầy trong chùa bị dao động theo dòng chảy của xã hội. Dân chúng, Phật tử vào thời buổi đó ai làm lụng đủ cơm ăn áo mặt là quý rồi, đâu có dư cơm gạo mà để cúng dường cho các Thầy và hộ trì Tam Bảo. Sinh nhai trong đời sống thường nhật đã cuốn tâm đạo của Phật tử đi mất, họ chỉ có niềm tin, cảm tình chứ không có của cải. Các Thầy phải lo tự túc đời sống, để có ăn và có mặt đúng nghĩa có thực mới vực được đạo. Làm đủ cách để sống. Nào là xuống xóm dừa để xin đất tốt có phân, chở về, khiêng lên cải thiện với đất vốn sỏi đá ở chùa để trồng rau, trồng đậu ăn qua ngày. Dùng đất để xây lò, trộn than đá để nấu xì dầu, nấu xà phồng. Xì dầu, xà phồng không buôn bán làm ăn được, dẹp tiệm. Rồi rau cũng bỏ, đậu cũng vứt, xới đất lấy chỗ làm nấm rơm, rồi mua bao xi măng về ngồi xếp thành bao bì bỏ chở cho dân chúng gói hàng, hết nghề này sang nghề khác, có khi thức cả đêm để làm, thỉnh thoảng bỏ luôn công phu, tụng kinh, công nhận các Thầy đủ nghề hết. Tôi thì cứ vui sống, khổ nhưng chẳng biết khổ, các Thầy làm việc thì mình làm việc, sai đâu làm đó. Nhưng chưa, cái cảnh hộ khẩu tạm trú, tạm vắng mới đau đầu nữa chứ, cái này còn cực hơn là gánh nước khiêng đá từ dưới núi lên. Có ai có hộ khẩu, chủ hộ ở chùa đâu mà xin được tạm trú, thích thì cho ở, không thích thì mời đi, vì lý do an ninh quốc gia. Nhớ có đêm nghe chó sủa nhiều, sợ công an xét chùa các Thầy leo lên nóc chùa để ngủ, có Thầy xuống triền núi tìm gốc cây rậm để ngủ, để phòng không nhà trống, không có người. Ôi là muỗi thiêu đốt, tội nghiệp. Thỉnh thỏang, được một thời gian ngắn sống không giấy tờ tạm trú nhưng yên ổn, Thầy trò lui cui, bắt đầu làm lại, trồng bông, trồng hoa cúng Phật, đùng một cái bị mời đi nơi khác ở, cây cỏ, vườn chùa không người trông coi, đơn lẻ một mình, hoa trái chết héo mòn trong nắng gắt, đơn côi. Trong thời gian đó, ngược lại mới lạ chứ có nhiều người muốn đi tu, mặc dầu trong hoàn cảnh rất khó khăn, bạn trang lứa của tôi cũng rất nhiều, con em trong Phật tử. Có đứa thì lên ở được vài ngày, đứa vài tháng, đứa muốn ở luôn, đứa muốn ở thử, đứa vì thấy vui, nhiều hoàn cảnh, rốt cuộc không còn ai ở lại, có quá nhiều lý do không chịu nỗi tóm lại vì khổ, thiếu ngủ, sự khắt khổ trong đời sống thiền môn, không phù hợp với nhân duyên nghiệp lực? Tôi vẫn một mình vui sống với Thầy, tuy nhiên cũng có khá nhiều khó khăn, cũng lăn lộn đây đó, lên Đại Ninh, tới Bảo Lộc, xuống Đơn Dương giống như người phải sống lưu vong vậy, hết thời hạn thì được trở về với Thầy, rồi lại đi, cứ thế… Có lúc Thầy nản lòng, thấy thương hoàn cảnh của tôi còn nhỏ tội nghiệp, cho gọi Mẹ tôi lên chùa rồi bảo thôi khó khăn quá, Chị mang cháu về nhà ở để nó tiện đi học, khi nào hoàn cảnh yên ổn nó còn có tâm quyết tu hành thì trở lại chùa, Mẹ tôi thì nghe theo lời Thầy chấp nhận. Hai Mẹ con dẫn nhau đi ra hiên chùa ngồi, buồn. Mẹ nói đi về nhà ở nghe con. Tôi bảo, Mẹ về con không về. Tu chùa này không được thì đi ở chùa khác, chứ con không về.
*-*
Đến năm 1986 đất nước mở cửa, tôi và các Thầy lại trở về chùa. Cả chùa có sư phụ tôi ở Phật Học Viện Hải Đức hay lên xuống mỗi ngày, sáng xuống tối lại về và hai Thầy nữa, một mình tôi là chú điệu buồn tẻ, chẳng biết chơi với ai, chỉ có vài đứa nhỏ Phật tử lên xuống vào ban đêm để tụng kinh, tụi nó đi về thì còn một mình lủi thủi. Có mùa hạ các Thầy lên an cư ở Hải Đức ban ngày chẳng có ai, chim kêu cũng sợ, trong cái yên lặng của núi, một hòn núi xơ xác trong cái nắng và khô vào mùa hè của miền cát trắng, tiếng động nhẹ cũng sợ. Càng sợ chừng nào thì càng khao khát có hình bóng con người. Con nít dưới xóm lên chùa, thì nhảy ra chơi với chúng thích lắm. Chơi đã đánh lộn túi bụi vì tụi nó dở chứng phá bông, phá hoa, bắn chim, không biết nghe lời chú điệu.
Trong năm này có một Thầy từ xa tới, xin ở lại chùa, vậy là chùa có thêm một Thầy, nhưng tôi thì cũng lủi thủi một mình chưa có huynh đệ. Một hôm tôi nghe quý Thầy nói chuyện, thầy Trụ trì nhận thêm vài chú nữa để tu với thằng này cho vui, chứ kiểu này là chuông treo đầu chỉ, ban đầu tôi nghe nhưng chẳng hiểu hết ý này. Không biết lý do gì, Thầy tôi không nhận thêm đệ tử nhỉ. Bình Định, Đà Lạt, Nha trang nhiều nơi gửi con tới xin đi tu với Thầy, vậy mà Thầy không nhận. Tôi cũng khao khát có bạn tu lắm chứ, nếu có lỗi quý Thầy la, cho roi thì ăn đòn chung cũng vui.
Mùa hạ năm 1987, tôi đựơc sư phụ cho ra chùa Thiên Bình - Bình Định tập sự an cư, sau ba tháng về thật ngạc nhiên, chỉ mới thời gian ngắn thôi mà chùa tôi đông vui thế này, con nít nhà ai mà choi choi nhiều thế, tám tuổi có, mười tuổi, mười hai tuổi có, nằm ngủ cả hàng, sắp lớp. Sau mới biết là mùa hè này các em lên chùa ở và Thầy tôi đã thâu nhận đệ tử. Vậy là từ đó, tôi có thêm sư đệ. Huynh đệ tôi, mỗi người mỗi ngã, mỗi dòng máu khác nhau, phương trời khác nhau, không cùng chung huyết thống, tuy nhiên chúng tôi đã hội ngộ trong một ngôi nhà. Ngôi nhà Đạo Pháp. Thầy tôi là Cha. Tình thương này còn cao vời vợi hơn cả thường tình thế gian, hơn cả anh em ruột thịt sanh ra trong một gia đình, dòng máu, bởi lẽ nơi đó chúng tôi đã có nhân duyên với nhau trong nhiều kiếp sống. Hoàn cảnh gia đình, cha mẹ là nơi mà chúng tôi mượn đường đi ra giữa cuộc đời này chứ không phải là nơi hội tụ nghìn xưa để gặp lại hôm nay trong đường đạo nhiệm mầu.
*-*
Rồi thời gian cứ bình thản trôi. Con người theo sự vận chuyển của bánh xe nhân duyên, hội tụ rồi tan rã. Huynh đệ tôi tới lui gặp nhau, người đến người đi, vận hành theo nghiệp lực, việc ai nấy làm, lý tưởng đã được vạch ra cứ tiến bước trong sự chăm sóc dắt dìu của Thầy, Tổ. Tính chất của thời gian cũng là sự trưởng thành của con người. Cho đến hôm nay, cảnh chùa không còn điêu tàn, mang dấu tích hoang sơ của đền thờ, lăng miếu như thuở tôi mới bước vào chùa. Các sư đệ của tôi cũng không còn bé bỏng như ngày nào mà bây giờ họ đã trưởng thành và tiếp tục trưởng thành. Thầy tôi đã có cháu chắt nối tiếp theo con đường đạo của chư Phật. Hơn hai mươi lăm năm, trong tính liên tục vận hành của thời gian, khoảng đó chưa phải là dài của một kiếp người nhưng cũng không phải ngắn với một sự cố gắng vượt qua những khó khăn thử thách trong đời sống của Thầy trò. Bây giờ, ngôi chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa đã nguy nga, mọi việc xây dựng một ngôi già lam coi như đã ổn định, nhưng đó chỉ mới là nhành lá, hoa trái của gốc cây cổ thụ Đạo Pháp. Nói đến Đạo Pháp là nói đến con đường tu tập chuyển hóa nội tâm, nhằm vươn tới hoàn thiện nhân cách con người, tạo dựng sự an lạc cho chính mình và làm lợi lạc chúng sanh. Đó là mục tiêu chung của những con người đi trên con đường tu học thênh thang và đầy dẫy khó khăn, đòi hỏi cần có nhiều nghị lực để vượt qua. Chúng tôi còn phải tiếp tục phát huy con đường này.
Nhân duyên hội ngộ trong thắng duyên, đi cùng một lý tưởng, đó là niềm hạnh phúc vô hạn của người học đạo, chúng ta cần phải gìn giữ và trân quý. Đánh mất thắng duyên thù thắng trong cõi đời mong manh, nhiễm trược này sẽ không biết cho đến khi nào chúng ta mới có thể tìm lại được, ví như một người yếu đuối đang chới với lại đánh mất chiếc phao là vật bảo quý giá nhất giữa đại dương bao la. Nhân duyên hội ngộ của Thầy trò huynh đệ chúng tôi là thế. Nhân duyên này đã có trong nhiều kiếp sống và tiếp tục nhiều đời đến nữa cho đến khi hoa khai quả mãn, nếu không có nhân duyên đã gặp nhau thì sẽ không có ngày hôm nay gặp nhau, cũng vậy nếu không có nhiều đời xuất gia tu học thì bây giờ không thể thành Sa-môn sống trọn đời trong thiền môn được. Cho nên, ai đó bảo rằng, có một người nào đó được cha mẹ đưa lên chùa ở và bắt phải ở chùa là điều không thể xảy ra. Chỉ có nhân duyên xuất gia thì người đó mới có thể ở chùa được. Và khi hết duyên thì người đó cũng từ bỏ con đường của mình ra đi cũng là lẽ thường tình, chúng ta hãy biết trân trọng.



