Nhung chang duong

Tác giả: Thích Trí Viên

Sau những tháng ngày quê hương không còn cảnh bom rơi, đạn lạc, cảnh người bị chết oan, thì tôi rời ghế nhà trường, tập sự bước vào đời.

Là người học tăng, như bao học sinh khác, nay lại chuyển hệ trở thành người lao động chân tay, tôi thật sự ngỡ ngàng, không biết sẽ ra sao! “Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng”. Bấy giờ Tôi và một số huynh đệ cùng khóa phải đi học nghề chế biến… còn một số thì về quê với nương rẫy .

Sau hơn một năm học, huynh đệ chúng tôi tương đối đã vững tay nghề, nhờ vào sự nhiệt tâm chỉ dạy của một vị kỹ sư tên Phỉ, anh là một Phật tử trung kiên với đạo.

Tại cơ sở sản xuất vị trai Lá Bồ-đề, huynh đệ chúng tôi mỗi người nhận một trách nhiệm trưởng ngành. Trong thời gian ấy, ở tại cơ sở nầy, HT. Thích Đổng Minh, là người chủ trương quy tụ một số Tăng Ni trong thành phố hơn 250 vị và một số phật tử tại gia cùng nhau lao động, cùng nhau chia sẻ mọi ngọt bùi trong lúc khó khăn.

Ngày xưa cầm bút, bây giờ cầm ống nghiệm, nhiệt kế, giấy thử màu (pH)… cũng không gì trở ngại, con Đức Phật mà! “tùy duyên ứng phú”. Người xuất gia quan niệm rõ: cơm rau mỗi ngày là chuyện bình thường, chả bận tâm.

“Nâu sòng khỏa lấp màu xa mã,

Dưa muối làm phai vị thế gian”.

Chúng tôi sống và làm việc trong tình: “em ngã chị nâng” là trên hết.

Gần hơn một năm làm nghề sản xuất chế biến, lao động chân tay dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của một bậc Thầy khả kính, Người luôn luôn hướng về hàng hâu tấn, không vì danh, không vì lợi, cuộc sống của Người như băng, như tuyết. Anh em làm việc trong tình thương của Thầy không hề thấy mệt mỏi, dẫu bị la rầy thường xuyên. Ở tại đó anh em chúng tôi sống như đang sống trong một tu viện, khép mình dưới những tàn cây, ẩn hiện có dị thảo.

“Nơi đây có trăm ngàn trái tim thương yêu,

Một con người chỉ biết sống hy sinh.

Từ những ngày gian nan binh chiến,

Vượt khó khăn cho đến lúc thanh bình”.

Rồi một biến động đến với Tôi: nhận giáo sắc phong hàm Trụ Trì. Tôi lo ngại quá! Nhưng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Thế là Tôi đổi nhãn hiệu mới. Trước khi Tôi nhận nhiệm sở mới, Tôi xin quý Ôn, quý Thầy cho Tôi thêm một vị nữa cùng đi với Tôi, đó là Thầy Minh Thông (nay là hiệu phó Trường Trung Cấp Phật Học Khánh Hòa). Như vậy, trên nguyên tắc tôi là Trụ Trì còn TT. Thích Minh Thông là phó. Đến ngày 03/01/1977, Tôi chính thức nhận quyết định bổ nhiệm trụ trì, do TT. Chánh Đại Diện Tỉnh Thị Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất tại Nha Trang, Khánh Hòa ký (nay là Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa).

Tuy đã nhận quyết định trụ trì, nhưng gần 4 năm sau, Tôi mới chạy đi chạy về, không ở lại nhiệm sở, vì: “Tăng ly chúng Tăng tàn”, vả lại mỗi khi xuống chùa ở lại thì phải đăng ký tạm trú, quá phiền, mặc dù cùng ở trong thành phố. Tuy đất nước đã thống nhất, đã hòa bình, không còn cảnh bom rơi đạn hú, nhưng tình người chưa thật sự gần nhau!. Dù người xưa có dạy:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng ,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

Thế mà vẫn còn bao nhiêu khổ nhọc về vấn đề đi với ở. Thật là Ta Bà khổ!

Chạy đi chạy về như vậy hơn 3 năm. Sau đó, tôi lên kế hoạch họp phật sự cùng Ban Đại Diện và Ban Hộ Tự cũ bác Lê Dụng Kỳ pháp danh Tâm Tư, bác Hồ Văn Di pháp danh Nguyên Hải, Trần Hữu Mận pháp danh Trừng Thanh, Trịnh Văn Hợi pháp danh Tâm Lợi, Huỳnh Ngọc Noa pháp danh Nguyên Đại, Đồng Viết Hải Hà pháp danh Tâm Huệ, Phạm Thị Kế pháp danh Nguyên Phú, Nguyễn Thị Mười, pháp danh Nguyên Giới, Bùi Thị Thính pháp danh Tâm Thanh, Phạm Thị Ngắn pháp danh Nguyên Dung v.v…

Trong buổi họp này tôi nêu 3 việc:

1/ Xin phép chánh quyền địa phương mở cửa chùa lại, để phật tử về tụng kinh, bái sám, đóng chuông U Minh…

2/ Nuôi Tăng chúng.

3/ Chuẩn bị khoảng 8-10 năm sẽ đại trùng tu ngôi chánh điện, nhà tổ, vì chùa này nguyên là miếu thờ thần .

Tôi giải trình rõ ràng 3 việc trên, quý Bác đều đồng tình phương hướng tiến hành .

Như vậy, bây giờ (1979) Chánh điện được mở cửa, có người tụng kinh, có hương khói và có tiếng chuông mỗi đêm. Kế tiếp, Tôi chủ trương làm kinh tế tự túc tại chùa để có điều kiện nuôi chúng điệu. Nhưng một mình sợ không kham nổi nên Tôi mời hai Thầy Trí Khải và Thầy Huệ Thành (thường gọi thầy Đạo) về phụ giúp công việc với Tôi, nhất là trông coi chúng điệu.

Hai thầy vui vẻ về sống cùng Tôi và làm việc rất nhiệt tình, không kể ngày đêm, đau yếu. Có lúc làm đến 12 giờ khuya, 1giờ sáng mà anh em chúng tôi cùng một số phật tử trẻ vẫn còn rộn ràng cắt xà phòng, nấu nước tương xì dầu và trông coi giồng nấm rơm có mọc đều không, để ngày hôm sau hái và nhờ Phật tử đem đi bán mua rau gạo. Hôm nào kế hoạch bị trở ngại, bị hư hoại, thì nồi cơm trộn của quí chú điệu hôm ấy cũng bị lưng (không đầy), phải lập tức bổ xung bánh tráng, bánh mì, hoặc khoai bắp… đủ loại trộn vào cho đủ bữa. Huynh đệ chúng tôi sống trong giai đoạn này (1980-1988) như gà trống trông đàn con, vì tuổi quí chú còn nhỏ 6, 8, 10, 12 tuổi. Mấy điệu phát nguyện theo chúng tôi tuy tuổi còn bé nhưng quyết chí cao, nên chúng tôi đón nhận trong niềm thương mến trọn vẹn. Năm xưa, chúng tôi đến với Đạo cũng trong tuổi ấy, không hiểu biết gì về nhân quả, luân hồi mà chỉ bằng tấm lòng kính ngưỡng, thương Đức Phật. Mỗi khi nhìn thấy hình tượng Ngài, là ngủ mơ thấy Ngài, chỉ có thế mà đến với Ngài, đến với tấm lòng trong sáng hồn nhiên. Nhờ vậy, tôi mới có niềm tin vững hướng về Đức Phật. Đức Phật là tấm lòng của tôi và tôi đang có trong lòng của Đức Phật. Tấm lòng Đức Phật là sức mạnh trợ giúp cho tôi vượt qua mọi nẻo đường gồ ghề, khúc khuỷu, chống chỏi mọi gian truân của cuộc sống.

Dù trong hoàn cảnh khó khổ đủ điều, nhưng mấy Điệu lớn nhanh như thổi. Ôi! âu cũng nhờ sự gia hộ của Tam Bảo và sự giúp đỡ của Phật tử, nhất là tình huynh đệ, nghĩa thầy trò đầm ấm nên mấy Điệu áo mới thay mãi. Một thời gian mấy Điệu lớn, tôi gởi đi học xa, còn lại huynh đệ chúng tôi chia nhau quản lý từng việc một. Những buổi họp chúng tôi thường khuyên mấy điệu: Thầy trò chúng ta thiếu rau thiếu gạo chứ đừng thiếu tâm đạo, thiếu phương tiện sống chứ đừng thiếu chữ nghĩa”. Do vậy mấy Điệu cố gắng tu học, chú nào lười biếng không vâng lời là mời ba má lên trả về. Vì tâm hồn trẻ thơ của mấy Điệu như mảnh vải trắng, sơn màu nào hiện lên màu ấy. Bây giờ (2006) mấy chú đã là Tỳ Kheo, Sa di. Một số đã học xong đaị học, một số đang học cao học… Hiện nay đang sống tại chùa cả thầy lẫn trò 20 vị, gồm có Tỳ kheo, Sa di và Điệu.

Trở lại những chặng đường năm 1989, như đã vạch hướng trước, huynh đệ chúng tôi họp 1 lần nữa tiến hành đại trùng tu ngôi Tam bảo. Tôi giao hai thầy Trí Khải và Huệ Thành lo việc nội tự, còn tôi lo việc đối ngoại, ngoại giao cho việc Đại trùng tu. Trưởng Ban hộ tự lúc bấy giờ (1989), là bác Bùi Thiện, pháp danh Nguyên Trang; Thủ quỹ là chị Nguyễn Thị Phi, pháp danh Nguyên Thường; Thư ký là anh Hoàng Văn Xuân pháp danh Nguyên Tường; Trưởng ban kiểm soát là anh Hồ Chơn, pháp danh Tâm Luân; Trưởng ban từ thiện xã hội là anh Trần Công Dương, pháp danh Tâm Thoạt và cùng quý phật tử chung lo đại sự.

Sau buổi họp chúng tôi tiến hành xin phép Giáo hội và chánh quyền tỉnh. Khi được cấp giấp phép, chúng tôi liền bắt tay vào đại trùng tu ngôi Tam Bảo. Trải qua hơn 1 năm xây dựng thì hoàn tất. Đến ngày 08 tháng 02 Âm lịch năm 1992, chúng tôi thiết lễ khánh thành.

Theo lời thỉnh mời của chúng tôi, chư tôn đức Tăng Ni xa gần cùng quý phật tử quang lâm dự lễ khánh thành thật đông, chật cả khu đồi. Lúc ấy nhìn khu đồi như con thuyền Bát nhã chở đoàn người con Phật. Khu đồi này nằm giữa trung tâm thành phố, bà con cất nhà ở kín xung quanh chân đồi, nó trông như một con thuyền đang nổi giữa biển đời, nào hoa, nào cảnh .

“Tứ diện thanh quang đô khả ái,

Danh lam thiên tạo xuất tầm thường”.

Hoặc:

“Biển lồng hoa thắm lầu cao,

Cách thôn dừa liễu dạt dào sóng quanh.

Danh lam ẩn bóng thị thành,

Gặp tuần giai tiết hóa tình lãng du”.

(Nguyễn Đình Mẫn)

“Nha Trang có “Bạch Tượng quyện hồ

Kỳ Viên ẩn hiện giữa đồi Sinh Trung” .

Từ trên đồi nhìn xuống là đầm nước xinh xinh .

 

“Đầm ôm chân núi, núi đứng soi bóng vào lòng đầm,

Nước trang điểm cho non, non trang điểm cho biển.”

(Quách Tấn, Xứ Trầm Hương).

Đó là năm xưa, bây giờ khác nhiều, thay đổi đủ kiểu. Nhà sát chân núi, ruột thịt của núi bị xâm thực, bị đục khoét, núi than thở mãi nào ai chạnh lòng!

“Ai lên đồi núi Sinh Trung

Quanh đồi lỡ lói như mang bệnh cùi!”

Thầy trò chúng tôi hơn 25 năm qua đồng tâm hiệp lực, ngày liền tháng, xây dựng liên tục để tạo một cơ sở tín ngưỡng Phật giáo khang trang thuần tín, đúng chánh pháp, hợp cảnh quang, góp thêm một nét đẹp văn hóa cho Thành Phố du lịch, nổi tiếng cả nước. Thế mà lòng người xung quanh khu đồi nào có chịu buông tha! Họ cứ đục, cứ khoét xâm lấn vào chân hông dưới núi mãi, đâu biết núi đồi đang rên rĩ, kêu cứu. Một mai nó sụp đổ thì hậu quả đó ai chịu đây? Thật đáng thương! Không biết bao giờ lòng người mới ý thức dành sự ưu tiên, gìn giữ nét văn hóa dân tộc của một đất nước đang trên đà hội nhập?

Sau lễ khánh thành (1992 ), chúng tôi họp và bầu Ban Hộ Tự mới, vì một số quý bác tuổi cao, phụ trách các ban ngành đã về cõi Phật. Ban Hộ Tự mới được hình thành qua buổi họp mở rộng, mọi Phật tử có quyền đề cử, ứng cử và bầu cử. Nhiệm kỳ này Bác Hồ Tấn Út Pháp danh Nguyên Thỉ là trưởng ban Hộ Tự, đạo hữu Nguyễn Văn Thảo Pháp danh Quảng Đàm là phó ban, đạo hữu Trương Công Dưỡng, đạo hữu Nguyễn Văn Bình Pháp danh Thị Quân làm Trưởng ban Nghi lễ, phó ban là bác Huỳnh Thứ Pháp danh Nguyên Trí, đạo hữu Hoàng Pháp danh Quảng Kim là chúng Trưởng Pháp hoa, bác Phạm Ai Trưởng ban Kiểm soát, đạo hữu Lê Thị Trưng, Pháp danh Nguyên Mỹ Trưởng ban Từ thiện xã hội, đạo hữu Hồng Trí Trưởng ban Trai soạn thế đạo hữu Quân, bác Thiệt, đạo hữu Năm là những người đã phụ trách những khóa trước; đạo hữu Nguyễn Đoan, Pháp danh Nguyên Chánh thủ quỹ, đạo hữu Huỳnh Hường, Pháp danh Nguyên Hạnh thư ký… Đó là những vị đắc cử trong Ban Hộ Tự mới.

Hiện tại (2007) chúng tôi đang xây dựng lớp học tình thương, tại khu vực tượng đài Di Lặc cũ, để cho các cháu nghèo thất học đến học .Bao nhiêu công tác xây dựng gần như hoàn chỉnh. Chúng tôi họp bàn thống nhất ngày 19 tháng 2 Đinh Hợi sẽ tổ chức lễ khánh tạ 15 năm xây dựng, nhằm ngày 6 - 7/4/2007. Trên đây là những chặng đường đã qua nhiều vui buồn.

“Đường tôi đi đâu chỉ là hoa lá

Mà phải còn sỏi đá với chông gai”.

Khi tôi nhận trách nhiệm ngôi Tam Bảo này, đến nay đã 30 năm. Một khoảng thời gian không phải là dài, nhưng cũng không phải là ngắn so với một đời người. Khi nhìn lại mấy Điệu năm nào theo chúng tôi, nay đã trưởng thành, hàng Phật tử tại gia cũng ổn định tu học và công tác xây dựng cũng tương đối theo kế hoạch, đó là niềm vui của chúng tôi.

“Một bước chân ngắn ngủi

Một nấc thang không cao

Một chặng đường không dài

Nhưng đó là một dấu ấn đáng được nhớ”.

Hôm nay nhân dịp Nội San Tâm Thị ra đời, chúng tôi kể lại để chia sẽ niềm vui cùng quí vị.

 

 

« Quay lại

Nội San Tâm Thị số 1 Khác

  • Lời giới thiệu
  • Núi Sinh Tung Chùa Kỳ Viên -Trung Nghĩa
  • Biên giới tình người
  • Nhân duyên hội ngộ
  • Đạo Phật và công tác xã hội
  • Tuổi trẻ xuất gia
  • Tản mạn ngày xuân
  • Lời tác bạch
  • Nhớ thầy tổ
  • Viết về mái chùa xưa
  • Mừng ngày thành lập đoàn
  • Phật giáo nền giáo dục môi trường sống và con người
  • Niềm vui trở về
  • Ta
  • Nhớ mãi một chuyến đi
  • Đạo lý cười:Nhà lửa
  • Trên đỉnh núi cao tất cả đều bình yên
  • Tìm kiếm
  • Trở lại chùa xưa
  • Asoka và kỳ kiết tập kinh điển lần 3
  • Ngày đầu tiên đến với đoàn áo lam
  • Cảm niệm Kỳ Viên Trung Nghia Tự
  • Ý niệm
  • Núi Kỳ Viên đứng hòn chồng trông ra hòn yến
  • Cảm xúc
  • Sám hối
  • Thầy đã cho chúng con cơ hội
  • Đạo lý cười (Phật bụng to)
  • Thực tập chánh niệm
  • Đôi dòng kính dâng
  • Vô thường
  • Ta đi tìm
  • Đạo lý cười (Phật không mở mắt)
  • Lời giáo huấn của thầy
  • Nhớ chùa xưa
  • Bài học nghi lễ
  • Bổn phận và trách nhiệm của người huynh trưởng
  • Ngày đó
  • Trang tiếng anh
  • Ước nguyện
  • Hộp thư
  • Powered by QuyetTri
    Copyright 2009, KyVienTrungNghia Pagode
    132 Sinh Trung, Nha Trang, Khanh Hoa, VietNam.
    email:huephap@gmail.com - Tel:(+84)58.3827197;3500252