Thuc tap chanh niem

Tác giả: Huệ Phú

 

 

Trong đời sống hằng ngày, con nguời phải giao tiếp qua lại sinh hoạt với nhau, sáu căn luôn tiếp xúc với sáu trần tạo ra những ý thức lăng xăng dao động, phân biệt chấp trước. Tâm ý con người luôn có khuynh hướng bám víu, dính mắc vào các trần cảnh. Do vậy, luôn bị ngoại cảnh lôi kéo, phiêu lưu trong thế giới ảo tưởng của tương lai, hoặc hoài niệm về quá khứ, và hiện tại bị trói buộc trong sự thành bại, đắc thất, vui buồn, thị phi, nhân ngã, bỉ thử v.v… Vì không có khả năng tự chủ, cho nên con người luôn cảm thấy bất an, phiền muộn, khổ đau. Đôi khi cảm thấy cuộc sống dường như vô vị, không còn ý nghĩa, nhìn cuộc đời chỉ còn lại một màu đen tối, mặc dù xung quanh chúng ta mọi cảnh vật thật là dễ thương, mầu nhiệm, nhưng với tâm hồn đầy giao động bất an đã biến chúng trở thành những cảnh vật thừa thải, vô nghĩa. Như Đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Do tâm con người ôm ấp những sầu muộn khổ đau, vì vậy mà thế giới tươi đẹp, vô cùng mầu nhiệm của nhân loại bị khỏa lấp một cách đáng thương. Đạo Phật là con đường hướng dẫn con người trở về nhận diện lại thế giới an bình tịnh lạc, về với cội nguồn uyên nguyên của sự sống tràn đầy hạnh phúc nơi mỗi người. Con đường trở về trong đạo Phật thì có rất nhiều, nhưng tất cả không ra ngoài Giới, Định và Tuệ, đây con đường giải phóng những phiền muộn, khổ đau ra khỏi tâm. Trước tiên Đức Phật dạy chúng ta phải dùng sợi dây giới luật để buộc lấy lục căn, không cho chúng buông lung phóng túng theo ngoại cảnh, không bị cảnh trần lôi kéo sai sử như một tên nô lệ. Nhờ vậy, tâm được định tĩnh và trí tuệ phát sanh, thấy rõ mọi sự vật dưới ánh sáng duyên khởi, cho nên mọi vấn đề trong cuộc sống trở nên tốt đẹp, vui vẻ. Muốn thành tựu Giới-Định-Tuệ thì chúng ta phải cần tu tập chánh niệm (Sammàsàti), nghĩa là phải trở về với thực tại của cuộc sống một cách sáng suốt, ý thức sự có mặt của mình một cách trọn vẹn, tự chủ không vướng mắc, thì việc gì cũng có thể giải quyết được. Kinh Tứ Thập Nhị Chương Đức Phật dạy: “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện”.

Chánh niệm là cơ sở căn bản, là nền tảng giúp hành giả hoàn thành Giới-Định-Tuệ. Chánh niệm tỉnh giác có khả năng ngăn chận không cho các pháp bất thiện phát sinh, tăng trưởng và phát huy mọi công đức lành, giúp hành giả tiến bước trên lộ trình giác ngộ và giải thoát. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, Ta không thấy một pháp nào khác đem lại bất lợi lớn như là pháp dễ duôi này (thất niệm). Ta không thấy một pháp nào khác đem lại lợi ích lớn như là pháp không dễ duôi này (chánh niệm), quả thật lợi ích lớn”. Chính sự lợi ích như thế, cho nên trong kinh Di Giáo, Đức Phật cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của sự chánh niệm hơn cả những bậc thiện tri thức, hơn cả thiện hộ trì: “Các Thầy Tỳ Kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trợ, không bằng không quên chánh niệm. Nếu có người không quên chánh niệm thì các giặc phiền não sẽ không vào được. Thế nên các Thầy thường phải nhiếp niệm tại tâm, nếu để mất niệm thì sẽ mất hết công đức” (bản dịch của Ngài Hoàn Quan). Một khi có mặt của sự chánh niệm tỉnh giác sẽ tạo cho hành giả môt phong cách tốt đẹp, ứng xử nhanh nhẹn, sáng suốt, dễ dàng thành tựu các oai nghi trong đời sống tu tập. Người nào sống có chánh niệm thì đó mới gọi là người biết sống. Sống trong chánh niệm tỉnh giác là sống có nghệ thuật. Nói theo Thiền Sư Nhất Hạnh thì đây gọi là nghệ thuật an trú trong giơ phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Bởi vì sự sống không bao giờ có mặt trong quá khứ và cũng không có mặt ở vị lai, mà sự sống chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại, không bị dính mắc, không sầu muộn, đầy an lạc và thảnh thơi.

“Chánh niệm là đường sanh

Buông lung là ngỏ tử

Tinh cần là bất tử

Buông lung như thây ma”.

(Pháp cú 21)

Nội dung thực tập chánh niệm là quán sát mọi cử chỉ, hành động, tư tưởng, ngôn ngữ của mình, để biết được mình đang làm gì, đang nghĩ gì và đang nói gì. Nếu ngọn đèn chánh niệm thắp sáng thì mọi hành động, suy nghĩ và nói năng sẽ được trong sáng, lợi mình lợi người. Tinh thần chánh niệm này được Đức Phật dạy rất đầy đủ và rõ ràng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Ở đây, chỉ xin trình bày sơ lược một ít kinh nghiệm về lợi ích của sự thực tập chánh niệm ở phạm vi của các oai nghi trong cuộc sống hằng ngày.

Trong đời sống hằng ngày hành giả cần phải duy trì sự chánh niệm tỉnh giác trong tất cả mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi hay nói cách khác là thân đâu tâm đó. Chánh niệm giúp hành giả tự kiểm soát mọi động tác của mình. Khi bước chân đi, phải quan sát từng bước, ý thức rõ trong mỗi bước đi, không để tâm xao lãng vào việc khác. Nếu hành giả thực tập thiền hành trong Thiền đường hoặc một nơi vắng vẻ nào đó, thì cần theo dõi một cách chặt chẽ hơn, từ cách dỡ chân lên, rồi đặt chân xuống; chân phải dỡ lên đặt xuống, chân trái dỡ lên đặt xuống, mỗi bước, mỗi bước đều theo dõi và ý thức rất rõ, tâm luôn có mặt trong từng mỗi bước chân đi. Đi trong ý thức chánh niệm tỉnh giác như vậy thì hành giả có những bước đi thật nhẹ nhàng, khoan thai. Nếu đi trong thất niệm hành giả dễ rơi vào trạng thái vội vã, hấp tấp, mong đi cho nhanh đến. Đi mà hối hả thì người ta gọi là “đi như chó đạp lửa”, đi mà giống như chạy, đó là thái độ của người thiếu tỉnh giác; và đi như thế, hành giả biểu hiện cái tướng trạng vội vàng, bất an, cảm thấy rất mệt mỏi, sẽ không có sự an lạc trong lúc đi. Trong trường hợp như thế, hành giả nên dừng lại, rồi bắt đầu ý thức lại từng bước chân và bước cho thong thả, thảnh thơi và thật là vững chãi, hoặc đọc thầm câu: “Tôi biết tôi đang đi”, thì lập tức sự chánh niệm tỉnh giác sẽ có mặt lại ngay trong mỗi bước chân và sự an lạc cũng đồng thời hiện diện ngay tức khắc. Người đi có chánh niệm là người đang bước đi trên đất Phật, đang bước đi trong thế giới của Tịnh độ, ở ngay trần gian này, ngay tại đây và bây giờ, chứ không cần đợi sau khi chết sanh về Tịnh độ mới được đi trên đó. Như vua Trần Thái Tông cũng đã nói trong Khóa Hư Lục “Bộ bộ đạp trước thật địa”, nghĩa là mỗi bước chân của chúng ta đều đang dẫm trên mảnh đất thực tại.     

“Mỗi bước chân đi vào tịnh độ

Mỗi cái nhìn thấy được pháp thân” .

            Hoặc:

“Mỗi bước dẫm trên chốn Niết Bàn

Lướt dòng sanh tử chớ hề nan

Hư không dành bước trong ly niệm

Tịnh độ là đây chốn Niết Bàn”.

Hành giả tu tập chánh niệm sẽ tự kiểm soát được mình trong khi đứng, biết mình cần phải đứng như thế nào, chỗ nào nên đứng, chỗ nào không nên đứng và đứng cho ngay thẳng, đàng hoàng, không xuyên tới, ngã lui, đứng sao cho có oai nghi tế hạnh. Một khi đã an trú trong chánh niệm,  hành giả luôn thể hiện một phong độ hết sức trầm tĩnh, khinh an. Dù đứng một mình hay đứng với bất cứ một ai, hoặc ở nơi vắng vẻ hay chỗ đông người, vẫn luôn gìn giữ tư thế tề chỉnh, đây là một nét đẹp độc đáo của con người tỉnh thức. Nếu không có sự hiện diện của chánh niệm, thì thân đứng đó mà tâm lại lang thang ở một nơi khác, chắc chắn hành giả sẽ không kiểm soát tư thế của mình đang đứng, cho nên có thể dẫn đến nguy cơ đứng không được đàng hoàng, thiếu oai nghi, khiến người khác nhìn thấy không sanh tâm hoan hỷ. Khi xưa, Ngài Xá Lợi Phất chỉ một lần nhìn thấy phong thái chánh niệm của Tôn giả Át Bê trong lúc hành khất, mà đã chuyển đổi cuộc đời của Ngài, từ giã con đường ngoài đạo trở về với chánh pháp của Đức Phật. Vì vậy, người biết tu tập chánh niệm là đã đủ làm cho mình an lạc hạnh phúc và làm cho mọi người cũng được an vui. Chứ không phải đợi có tiền của thật nhiều, có nhà lầu xe hơi, có quyền thế, có kẻ hầu người hạ mới có hạnh phúc đâu.

Ngoài sự duy trì chánh niệm trong khi đi đứng của đời sống sinh hoạt hằng ngày, thì chánh niệm tỉnh giác cũng phải có mặt trong lúc ngồi nằm. Khi nằm nghỉ cũng phải duy trì sự tu tập, không được gián đoạn. Để chánh niệm dễ dàng có mặt thì hành giả nên nằm nghiêng bên tay phải, hai chân chồng lên nhau, trong thế kiết tường, tức là thế nằm của sư tử, nếu mỏi chúng ta có thể trở mình nằm ngữa và để hai chân chéo vào nhau. Khi nằm nên buông xả tất cả những suy nghĩ, thả lỏng các cơ bắp, tạo một sự thoải mái, toàn thân hoàn toàn yên nghỉ và ý thức sự có mặt của mình, biết mình đang nằm nghỉ, hoặc chúng ta có thể theo dõi hơi thở vào ra hay sự lên xuống phồng xẹp của bụng, không để cho tâm ý buông lung. Ý thức chánh niệm như vậy thì các chủng tử dục vọng không có điều kiện để phát sinh và hạt giống tỉnh thức được huân tập tăng trưởng, một cảm giác hỷ lạc xuất hiện, sức khoẻ nhanh chóng được hồi phục, thân thể sẽ được khoẻ mạnh, thần sắc tươi sáng.

“Không tham việc đã qua,

Không mong việc sắp đến,

Sống ngay trong hiện tại,

Do vậy sắc thù diệu”.

 

“Do mong việc sắp tới,

Do tham việc đã qua,

Nên kẻ ngu héo mòn,

Như lau xanh rời cành”

                                                                                                (Tương ưng I, 6 )

Sự thực tập chánh niệm qua các oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi, thì ngồi là một tư thế tối ưu hơn hết. Một tư thế dễ dàng thực hiện sự có mặt của chánh niệm. Cho nên, trong nếp sống Thiền môn chư Tổ đã chế ra những thời khóa để ngồi tịnh tu, nhiếp phục tâm ý, không cho nó rong ruổi, chạy đông chạy tây. Khi ngồi công phu, có thể ngồi kiết già hoặc bán già gì cũng được, nhưng phải giữ lưng cho thẳng, toàn thân thư giản, theo dõi hơi thở, hơi thở vào, ra, dài, ngắn, mạnh hay yếu như thế nào ý thức rõ như thế ấy, “hơi thở vào tôi biết hơi thở vào, hơi thở ra tôi biết hơi thở ra. Hơi thở vào dài biết rằng hơi thở vào dài, hơi thở ra dài biết rằng hơi thở ra dài…”, theo dõi và ghi nhận như vậy, không để tâm chạy sang đối tượng khác. Nếu những hành giả đang hành trì phương pháp niệm Phật thì cũng có thể áp dụng phương pháp theo dõi hơi thở và phối hợp với câu niệm Phật. Như khi hít vào thầm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, thở ra thầm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, làm như vậy, không được xao lãng cho hết thời gian công phu. Trong tác phẩm Giảng Nghĩa Kinh Di Đà, Pháp sư Viên Anh nói: “Người niệm Phật nếu biết kết hợp với hơi thở thì sẽ được Tinh tấn bất thối chuyển”. Một hành giả muốn đạt được chí nguyện tu tập của mình thì không thể xem nhẹ thời khóa công phu tu tập. Trên con đường tầm cầu giác ngộ giải thoát hành giả có thể hy sinh lĩnh vực tri thức chứ không được quên lãng giờ giấc tu tập. Thuở xưa Đức Thế Tôn cũng trong tư thế ngồi tịnh tu mà thành tựu sự giác ngộ viên mãn, và đến khi thành đạo rồi Ngài vẫn luôn giữ gìn thời khóa hằng ngày của Ngài. Nói như thế, không có nghĩa là đợi đến khi nào chúng ta ngồi vào công phu, mới ý thức tu tập chánh niệm, còn những giờ khác thì mặc tình để tâm bay nhảy, thiếu sự kiểm soát, mà ngay cả khi ngồi chơi với huynh đệ, với bạn bè, hoặc ngồi làm việc ở cơ quan… đều cần phải thực tập chánh niệm.

“Bây giờ rõ mặt đôi ta,

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.

Năng lực của sự ý thức chánh niệm sẽ giúp hành giả thật sự an lạc, ung dung trong suốt quá trình ngồi. Còn nguợc lại ngồi trong tâm trạng lăng xăng, dao động, bởi những ý niệm điên đảo vọng tưởng, thì không thể ngồi một cách bình yên, vững chãi, mặc dù nơi chúng ta đang ngồi rất yên ổn, rất thanh tịnh.

“Vậy nên những chốn  thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng”.

Người nuôi dưỡng chánh niệm thì trong tất cả mọi oai nghi tự nhiên được thành tựu, đi-đứng-ngồi-nằm đều trở nên thư thái, đẹp đẽ, thể hiện một phong cách khả ái, an lạc, tràn đầy hạnh phúc. Trong tác phẩm Tâm Tĩnh Lặng, Thiền Sư Achan Chah nói rằng: “Tu hành đúng đắn là duy trì chánh niệm trong tất cả mọi hoàn cảnh”.

“Đi-đứng-nằm-ngồi trong chánh niệm

Vào ra cười nói tướng đoan nghiêm”.

Nếp sống của một hành giả Phật giáo, là nếp sống của thiền môn quy củ, cho nên trong mọi cử chỉ, động niệm đều phải thận trọng, tế nhị, không được thô tháo. Người thực tập thành tựu chánh niệm trong các oai nghi, cũng có nghĩa là giới luật được thành tựu. Giới luật được thành tựu thì Trí tuệ sẽ có mặt. Trong Trường Bộ kinh Đức Phật dạy: “Này Bà La Môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho trong sạch, ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ; ở đâu có trí tuệ ở đó có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Trí tuệ và giới hạnh được xem như là tối thắng ở đời”. Một khi trí tuệ có mặt thì sầu-bi-khổ-ưu-não sẽ bị tiêu diệt, như ánh sáng xuất hiện thì màn đêm tăm tối sẽ bị tiêu tan. Đây là mục đích duy nhất của hành giả tu theo Đạo Phật hướng đến. Vì vậy, chánh niệm là yếu tố quan trọng nhất giúp hành giả thành tựu nếp sống phạm hạnh, một nếp sống an lạc giải thoát. Chúng ta có thể nói chánh niệm là linh hồn của một hành giả Phật giáo. Vì sống có chánh niệm mới thật là sống, mới nhận diện sâu sắc về thực tại của các pháp. Người không an trú trong chánh niệm cứ để tâm tiếc nuối quá khứ, hay mơ mộng hảo huyền ở tương lai, buông lung trong dục vọng, chấp thủ trần cảnh, không sống trong sự tịnh lạc của đương niệm, không thấy được bản chất của sự thật, thì những người đó không thể gọi là sống. Dù thân họ vẫn đang hoạt động, sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần, nhưng tâm của họ không có mặt trong giây phút hiện tại, cho nên sự tiếp xúc ấy trở nên vô nghĩa, có mà cũng như không. Khổng Tử nói: “Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất chi kỳ vị”. Nghĩa là Tâm không có mặt trong giờ phút hiện tại, thì thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, ăn mà không biết mùi vị”. Sống mà không ý thức được mình đang sống là nỗi bất hạnh lớn nhất của con người.

Tinh thần tu tập chánh niệm giúp đời sống tu tập của một hành giả được vững chãi, ít vấp phải những vụng về sai trái, giải phóng mọi phiền muộn lo âu. Người sống biết an trú trong giờ phút hiện tại, là người biết xây dựng cuộc đời mình, biết kiến tạo cho mình một hòn đảo bình an. Như lời Đức Thế Tôn dạy: “Này Ananda, vị Tỳ kheo quán thân nơi thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ nơi thọ…, quán tâm nơi tâm…, quán pháp nơi pháp… Này Ananda, như vậy là vị Tỳ Kheo tự làm ngọn đèn cho chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác. Những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong Tỳ Kheo của Ta”.(Trường Bộ Kinh III, tr.101, bản dịch của HT. Minh Châu, 1972)

Con đường duy nhất ra khỏi sầu-bi-khổ-ưu-não của Phật giáo, đó là Giới-Định-Tuệ. Chìa khóa đưa đến thành tựu Giới-Định-Tuệ là sự nỗ lực tu tập chánh niệm tỉnh giác, thể nhập trí tuệ siêu việt, thấu rõ chân tướng của vạn pháp, thoát ly tham ái, chấp trước, diệt trừ các tâm lý tình cảm đắm nhiễm, đưa hành giả từ địa vị phàm phu tiến lên thánh giả, hoàn toàn tự tại giải thoát.

“Hãy nỗ lực tinh tấn

 Như Lai bậc chỉ đường

 Ai tu tập chánh niệm

 Ắt thoát vòng ma vương”.

             (Pháp Cú 276)

Đây là con đường rất thiết thực, rất là người, không van xin, không chờ đợi một đấng thần linh hay thượng đế nào ban bố cho chúng ta sự giải thoát chấm dứt khổ đâu, mà bằng sự nỗ lực tu tập của chính mình ngay trong hiện tại và tại đây. Sự giải thoát ấy có thật ngay trong giây phút hiện tại, một đời sống tràn đầy an lạc và hạnh phúc. Con đường này không luận nam phụ lão ấu, kẻ ngu người trí, màu da chủng tộc, ai cũng có thể tu tập được; chỉ cần trở về với giây phút hiện tại, thắp sáng chánh niệm tỉnh giác: Khi đi “tôi biết tôi đang đi”, khi ngồi “tôi biết tôi đang ngồi”, khi đứng “tôi biết tôi đang đứng”, khi nằm tôi biết tôi đang nằm”, khi nghe chim hót “tôi biết tôi đang nghe chim hót”, khi nhìn hoa nở “tôi biết đang nhìn hoa nở”… chỉ chừng ấy thôi không cần phải thêm bớt gì cả, các pháp đang diễn ra như thế nào, ý thức rõ ràng như thế ấy, không hoan hỷ tán thành, không chán ghét đả phá, hãy để cho “trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ, tưởng sẽ chỉ là cái thọ, tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau”. (Tiểu Bộ kinh I, tr. 398, bản dịch của HT.Minh Châu, 1982).

Đây là một đạo lộ thật sinh động, đơn giản, nhẹ nhàng, tịnh hóa ba nghiệp, hướng nhân loại đến phương trời tươi sáng, an lành, hạnh phúc, luôn được Đức Phật dạy cho hàng đệ tử của Ngài :

“Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Ai tinh tấn trong pháp và luật này

Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau”.

 

 

« Quay lại

Nội San Tâm Thị số 1 Khác

  • Lời giới thiệu
  • Những chặng đường
  • Núi Sinh Tung Chùa Kỳ Viên -Trung Nghĩa
  • Biên giới tình người
  • Nhân duyên hội ngộ
  • Đạo Phật và công tác xã hội
  • Tuổi trẻ xuất gia
  • Tản mạn ngày xuân
  • Lời tác bạch
  • Nhớ thầy tổ
  • Viết về mái chùa xưa
  • Mừng ngày thành lập đoàn
  • Phật giáo nền giáo dục môi trường sống và con người
  • Niềm vui trở về
  • Ta
  • Nhớ mãi một chuyến đi
  • Đạo lý cười:Nhà lửa
  • Trên đỉnh núi cao tất cả đều bình yên
  • Tìm kiếm
  • Trở lại chùa xưa
  • Asoka và kỳ kiết tập kinh điển lần 3
  • Ngày đầu tiên đến với đoàn áo lam
  • Cảm niệm Kỳ Viên Trung Nghia Tự
  • Ý niệm
  • Núi Kỳ Viên đứng hòn chồng trông ra hòn yến
  • Cảm xúc
  • Sám hối
  • Thầy đã cho chúng con cơ hội
  • Đạo lý cười (Phật bụng to)
  • Đôi dòng kính dâng
  • Vô thường
  • Ta đi tìm
  • Đạo lý cười (Phật không mở mắt)
  • Lời giáo huấn của thầy
  • Nhớ chùa xưa
  • Bài học nghi lễ
  • Bổn phận và trách nhiệm của người huynh trưởng
  • Ngày đó
  • Trang tiếng anh
  • Ước nguyện
  • Hộp thư
  • Powered by QuyetTri
    Copyright 2009, KyVienTrungNghia Pagode
    132 Sinh Trung, Nha Trang, Khanh Hoa, VietNam.
    email:huephap@gmail.com - Tel:(+84)58.3827197;3500252