Học chữ Hán là một chương trình bắt buộc khi chúng tôi trở thành một chú Tiểu ở chùa, học kinh nhất là hai thời công phu để tụng đọc mỗi ngày, học chữ Hán để hiểu thêm nghĩa của kinh, luật và luận sau này. Một hôm, có một số chư Tăng từ Bình Định vào Nha trang thăm viếng, ghé Kỳ viên ngủ lại vài hôm. Trong số các Thầy đó có một Thầy còn rất trẻ, tất cả đều còn rất trẻ, nhưng tôi bảo Thầy đó trẻ hơn là vì Ông ta nhỏ con hơn tất cả. Chưa qua ba mươi tuổi nhưng Thầy tôi nghe đồn rằng, Thầy ấy viết chữ Hán rất đẹp, có thể nói là đẹp nhất trong giới Tăng sĩ trẻ tại Bình định lúc bấy giờ.
Ngưỡng mộ tuổi trẻ tài cao, Thầy tôi gợi ý với Thầy ấy rằng, những ngày còn ở lại chùa thăm chơi, rãnh rỗi nhờ Thầy viết cho một số chữ Hán mẫu để cho đệ tử của tôi nó đồ lại và tập viết chữ cho đẹp. Thế là, từ ngày đó tôi lại có thêm việc làm, mỗi ngày phải bỏ thời gian nhất định ra để mài mực và đồ chữ.
Cũng trong thời gian đó, một hôm tôi đi học về, nhìn thấy Quý Thầy lui cui đóng hai khung chữ Hán thật lớn lên vách tường ngay phòng khách. Ôi những dòng chữ đẹp thật, chữ nhỏ mà viết đẹp, chuyện dễ, nhưng chữ lớn mà viết cho ngay ngắn, bằng nhau, đẹp sắc sảo, có thần là không phải đơn giản, viết trong một bút pháp thật tài tình đầy hào hoa, điêu luyện và mạnh mẽ, tôi nghe nói vậy. Tôi chỉ biết ngắm nhìn chưa biết nhận định thế nào, và hỏi thăm âm Hán Việt của hai bài thơ và đọc thuộc một bài như sau:
Thiên phong đảnh thượng nhứt gian ốc
Lão Tăng bán gian vân bán gian
Tạc dạ vân điều phong vũ khứ
Đáo đầu bất tợ lão Tăng nhàn.
Phỏng dịch:
Chót vót đầu non một am cỏ
Nữa phần Sư ở nữa phần mây
Đêm qua gió cuốn mây đi hết
Vỏn vẹn thanh nhàn mỗi mình Sư.
Tôi không biết tác giả của bài thơ này là ai, cho đến hôm nay vẫn chưa có cơ hội biết ai là tác giả mà có được bài thơ hay đến thế, ý nghĩa dạt dào thâm sâu và tâm thái đắc đạo của một cao Tăng đã ghi dấu trong ký ức của tôi từ khi mới bước chân vào chùa học đạo. Bài thơ này tôi thuộc ngay lần đọc đầu tiên, hơn mấy mươi năm khi có dịp đọc lại vẫn còn nhớ. Tôi thuộc bài này rất nhanh, không phải tôi hiểu trọn vẹn ý nghĩa của chúng, thuộc nhanh bởi vì tôi đang ở chùa núi, nơi đây vào mùa đông có rất nhiều đêm mưa gió bão bùng, tôi cũng thấy mây đen mây bạc tìm tới rồi những khối mây bị cuốn đi như thế, khi mây đen trôi đi để lại một sự an bình, hình ảnh này gợi cho tôi nhớ thật nhanh và không gì khó khăn để tôi cảm nhận được cái thanh nhàn của lão Tăng mà bài thơ muốn nói đến.
Cũng vậy, chúng ta sẽ rất sợ, và có nhiều nỗi sợ quây quanh, sợ những khi mây đen kéo đến mang theo những trận mưa to, gió lớn, cây lá xơ xác ngã nghiêng, tàn tạ rơi rụng; Sợ những trận cuồng phong nghịch ngợm của đất trời để lại toàn bộ sự trấn động của tâm thức yếu ớt như một bãi chiến trường ngổn ngang, sau những trận tàn phá của nội tâm và ngoại cảnh. Tuổi trẻ và nhứt là những tâm hồn còn quá nhiều xáo trộn của nghiệp lực tiêu khiên, ở trong vọng thức mà thường xuyên phải đối diện với sự tịch tĩnh, cô liêu quá yên lặng của núi rừng, bình an của đỉnh cao, sự yên tĩnh vượt trên cả những đèn hoa tụ hội giữa trần gian thế phược hào nhoáng.
Trên đỉnh núi cao tất cả đều bình yên. Đúng vậy, thật sự bình yên với tất cả huynh đệ của chúng tôi và một ai đó khi lên tới đỉnh núi này cất bước vào bên trong chánh điện hay ngồi nhẹ nhàng dưới tàn cây bóng mát nào đó, bên sân chùa hay hiên chùa. Tất cả đều bình yên khi chúng ta chấp nhận khép mình vào trong quy củ của thiền môn. Người xuất gia thì có quy chế của người xuất gia, tại gia thì có quy tắc của tại gia, tất cả có chung một lý tưởng là tạo dựng sự an bình trong nội tâm ngay hiện tại. Bản thể của núi là yên tĩnh. Sự bình yên của tâm thức, lòng trong sáng là sự bình yên bao la trên tất cả những đỉnh cao, nhưng lòng người còn phóng túng, vọng ngoại sống ngoài vòng nguyên tắc của thiền môn thì phiền não và bất an vẫn hiệu hữu, hơn thế nữa tâm thức chúng ta không cảm thụ được sự bình yên bao la trên đỉnh cao mà lại chợt nghe âm thanh đồng vọng đâu đây vô hình ám ảnh, đấy mới là nỗi khiếp sợ của con người trước sự yên lặng của núi rừng, của những người tập tễnh đi trên con đường mà phía trước nó dài thênh thang, rộng vời vời trải đầy hiểm nguy.
Thầy chúng tôi thường xuyên nhắc nhỡ chúng tôi rằng, hãy tự mình nên luôn ý thức niệm thân đâu tâm đó, đừng để thân thì tại núi cao nhưng tâm thì hạ sơn xuống phố, sống như thế thì bất an. Ở nơi an, mọi người bình an mà mình không an chính là như thế. Sống trong tình huynh đệ, trong sự thương yêu đùm bọc của Thầy tổ, trong nếp sống trong sáng của mọi người mà mình cứ vô và bất ổn đó là kết quả của sự vọng ngoại tìm cầu.
Mây trắng, mây đen trong bản thể của vũ trụ bao la được hiểu như là những khói nguồn tương tác cát bụi phì nhiêu. Trong bản thể tâm thức các loại mây được ví như là những nghiệp thức tịnh và bất tịnh hổn hợp của vi trần sa hoặc. Khi mây đen trôi đi nghĩa là nghiệp bất tịnh trôi đi, phiền não rơi rụng thì tâm thức bình an. Lúc nào, mây đen kéo đến, gió dục vọng vần vũ trong tâm thì bất an hiện hữu, không thể có thanh nhàn dù đang ở nơi chốn bình an. Bởi, chúng ta đã biết rằng một niệm tâm khởi thì thế giới khởi: Một là tất cả và tất cả là một. Tất cả trong một niệm. Trong hạt cải, nhành hoa chứa cả tam thiên thế giới. Trong thế giới hoa tạng, không có một ý niệm nào cả, dù đó là thánh là sư là trăng là gió, là biển bạc mây ngàn đều nằm trong một thể như như bất động. Chỉ một niệm tâm khởi thì chấn động cả rừng tâm im lá, mỗi bước chân đi là xào xạt nắng vàng. Sự chuyển động vi tế mầu nhiệm của thế giới hiện hữu chính là những giây phút an tĩnh nhứt của tâm thức loài người. Chúng ta sẽ không thấy cái đẹp nhiệm mầu của thiên nhiên vô tận, của kết tinh máu huyết, của âm dương hai đường khi tâm thức va chạm, phân biệt bỉ thử, tham trước đắm nhiễm. Mùa xuân không bất diệt khi có mùa xuân qua và mùa xuân sẽ đến. Mùa xuân vĩnh hằng là mùa xuân trong thánh tạng trôi nhưng chưa bao giờ trôi trong dòng sanh diệt.
Hình ảnh rốt cuộc thanh nhàn chỉ mình sư mở ra một cái nhìn cao rộng cho loài người hướng đến, tựa như một ước vọng hạnh phúc mỏng manh của kẻ đắm mình trong buồn khổ, thành bại, được mất đến rồi cũng trôi qua. Hình ảnh này cho chúng ta biết rằng, đời sống hiện thực thật sinh động không phải là ngõ hẹp, tiêu cực, là một sự bế tắc phiền trược của con người lăn ba trong cuộc đời. Hình ảnh này cũng không còn giới hạn trong ngôn ngữ phàm trần diễn tả mà là chuyển tải một thông điệp, con người cần phải có và biết đắm mình trong sự cô liêu tịch tịnh, phải có một sức mạnh dấn thân đối diện cuộc sống trước mắt, biết kham nhẫn vươn lên phía trước bỏ lại tất cả những trói buộc đã qua và biết làm giàu sự sống trong giữa mây bay và gió thổi bên cạnh sự đơn độc.
Hình ảnh rốt cuộc thanh nhàn chỉ mình Sư toát ra từ cách sống và từng bước chân thảnh thơi có mặt trong mỗi chúng ta và sẽ hiện tướng nơi hơi thở. Sẽ không có hơi thở nhẹ điều, và không có tâm thể thoát tục khi con người không lìa được những vướng mắc nhỏ nhoi, những bám víu tham vọng, những ước ao thầm kín bởi tác động của tham ái. Bài thực tập để có được thanh nhàn giữa cuộc đời mê trược này là bắt đầu hãy trở về sống ngay giây phút hiện tại, trong giây phút nào có được và trong nhịp tâm luôn ý thức.
Đọc lại những điều gì đã hiểu và viết nó ra trên từng trang giấy cũng chỉ là một quyền xảo để diễn đạt mật ý của cuộc sống. Cuộc sống vốn thể nhứt như nhưng không nói lên thì cuộc sống hữu ý trở thành vô ý, vô ý trở thành đa ý. Bản thể của mọi pháp vốn như như bất động nhưng không diễn tả thì không thể va chạm đến nó được. Nhưng cứ níu kéo và vướng mắc trong cuộc sống này thì chúng ta không thể hiểu được những gì tri kiến nằm ngoài ngôn ngữ, màu sắc âm thanh. Mượn lời để hiểu ý, mượn ý quên lời cũng là trong muôn ngàn thể cách để đi đến đỉnh cao của bình yên. Cuộc sống có thể vươn tới bình an nội tại hay không thì cũng bắt đầu từ những cái nhìn theo thể cách này.



