Tôi trở lại chùa khi tuổi đời đã ngót sáu mươi. Tôi đã là ông nội ông ngoại của ba đứa cháu và là cha của năm người con gồm ba trai hai gái. Tất cả đều trưởng thành, có đứa thành đạt đứa thì không.
Hồi đó, vào khoảng năm 64-65, ở tuổi đôi mươi, từ quê nhà ở tận Thủy Triều - Cam Ranh ngăn sông cách đò, xứ quê ít người biết đến, chứ đâu như bây giờ quê tôi trở thành vùng đất hứa của bao nhà doanh nghiệp. Ở đây có khu du lịch Bãi Dài đông đảo khách tham quan tắm biển, có con đường cao tốc hiện đại chạy men theo sườn núi dọc bờ biển. Biển trời bao la, sóng vỗ ì ầm dưới vực sâu vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Con đường nối liền sân bay Cam Ranh với thành phố Nha Trang. Quê tôi đẹp lắm bạn hiền ơi! Từ quê ra tỉnh học, tứ cố vô thân, không biết từ cơ duyên nào (lâu quá nên tôi đã quên) tôi được tá túc, bảo bọc ở nhà bác năm Noa rồi đến nhà bác Mân ở giai đoạn trung học phổ thông (đệ I và II cấp), rồi cùng với anh Hòa con bác Mân, anh Cư Gà (gọi là Cư gà vì nhà anh chuyên bán gà vịt và chim bồ câu). Tôi sinh hoạt GĐPT Kỳ Viên trong Đoàn ngành Thiếu. Chúng tôi hăng say trong mọi sinh hoạt, từ công tác từ thiện xã hội, cứu trợ bão lụt cho đến các sinh hoạt trại do Ban Hướng dẫn tổ chức. Anh em chúng tôi đều đạt thành tích cao.
Hồi đó phong trào học Phật của dân chúng rất mạnh, nhất là từ sau năm 1963 khi cuộc đấu tranh của Phật giáo đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo thành công. Mọi người đều tích cực tham dự các khóa tu học để nâng tầm hiểu biết về Phật pháp.
Nhà bác Mân chật, nhưng tấm lòng hai bác thì rất rộng, nhất là đối với một học sinh từ quê xa. Vì nhà chật, nên ngoài giờ cơm nước ra, cánh đàn ông như bác Minh, Hòa và tôi đều sinh hoạt tại chùa, chỉ học hành cũng như ngủ nghỉ. Cánh bác gái Khánh, Nguyệt, Hóa thì ở tại nhà, kể cả chú Phước nhí (vì là út nên được nhỏng nhẻo với mẹ, tối ngủ với mẹ), bây giờ chú là Việt kiều mà lâu lắm chưa về thăm quê.
Nhớ năm nào vào dịp Vu Lan, Phước nhí diễn hoạt cảnh mưa đông rơi, trời lạnh, quần áo tả tơi, vai vác bao bánh mì, miệng rao bán bánh kiếm tiền giúp gia đình trông rất thảm thương, ai đó núp ở sau tung bông gòn lên làm mưa rơi, tuyết rơi, làm quý bác nữ xem mà sùi sụt rơi lệ, rồi sẵn sàng mở hầu bao ủng hộ quỹ Đoàn. Gia đình Kỳ Viên năm đó gặp mùa Vu Lan béo bở.
Hồi đó, chùa tuy cổ kính mà đơn sơ lắm. Nghe đâu gốc là cái miếu. Miếu Trung Nghĩa do mẹ vua Bảo Đại lập lên để thờ các trung thần, liệt sĩ, hằng năm tế lễ bằng heo bò, sau này chuyển qua cho Giáo hội quản lý. Từ đó đổi tên thành Khuôn Hội Kỳ Viên, thiết trí và sinh hoạt thuần túy Phật giáo: Cầu kinh, giảng pháp, chấm dứt vĩnh viễn cảnh tế lễ heo bò.
Chùa được bao quanh bằng bờ thành cao và dày, rất kiên cố. Nếu có người giúp sức thì leo lên được và ngồi chơi thoải mái.
Ở vị trí cây đa, nhờ tán rộng nên được râm mát cả ngày. Từ nơi này nhìn xuống bến xe Ninh Hòa - Vạn Giả, nhộn nhịp đời thường với bao chuyến xe đi về, dòng người hối hả bon chen.
Hồi đó, chùa chưa có thầy nào về nhận trù trì, nhiều lúc tôi giữ chìa khóa khuôn hội, lo việc đóng mở cửa, chính vì điều này mà tôi vấp phải một lỗi lầm, mà bây giờ đã thành một kỷ niệm.
Thường là vào trước ngày mồng một hay rằm, các bác đều thay hoa quả mới trên các bàn án thờ, nhất là nơi bảo tòa đức Bổn Sư ở trung tâm chánh điện, là cổ hoa quả sung túc nhất, tươi đẹp nhất và đương nhiên là hấp dẫn nhất, điều đó nói lên tấm lòng tôn vinh đức Phật, đấng Từ phụ muôn loài.
Hoa quả hạ cổ thường để các bác Ban đại diện dùng trong những lúc đàm đạo công việc Phật sự và sau đó là bọn anh em chúng tôi. Nhiều lúc dư giả bác Mân phải ép phơi khô, nhất là chuối.
Có một lần sau khi trao đổi việc học hành bạn bè gợi ý muốn thưởng ngoạn, nhưng nghiệt thay món “hầu tàn” đã hết mà hoa trái lại mới đơm lên còn tươi xanh quá, tánh mình thì quý bạn bè và rất sợ phật lòng. Thật là nan giải cho tôi. Tôi mở cửa chánh điện, cửa bên hông, bật đèn lên đi một vòng qua các hương án, các cổ quả đều tinh tươm vừa đủ. Tôi đến khu vực trung tâm chánh điện. Đức Từ Bi vẫn an nhiên tĩnh tọa trên đài sen, trên đóa Ưu-đàm-bát-la muôn thuở, miệng vẫn mĩm cười. Tôi không để ý đến hai bình hoa lớn đang rực nở, mà chỉ chú mục đến cái cổ bồng đầy quả ngon, trên 2 nhánh chuối đại nào là cam vàng ngoại nhập, nào bơm, lê, mận, mãn cầu trông bắt mắt trên cùng là một chùm nho tím phủ xuống. Tôi nhìn Ngài. Đức Từ Bi như đọc được ý nghĩ tôi, Ngài cười, Ngài vẫn cười đấy chứ, để xem… Bên ngoài bạn bè thôi thúc, bên trong tôi bần dùn không quyết, cuối cùng tôi đưa tay đỡ chùm nho xuống, một vài trái rơi ra, tôi nhặt vội. Tôi lại nhìn Ngài, Ngài cũng vẫn cười. Nụ cười khoan thứ bao dung hay trách tôi tội bất kính đây? Tôi đem ra đãi bạn mà trong lòng thấy len lõi một niềm hối hận. Từ đó cho đến bây giờ, mỗi lần nghĩ đến hành động dại dột này lòng tôi se lại và buồn.
Năm tháng âm thầm trôi qua, tuổi đời chồng chất, tóc từ xanh đã chuyển màu muối tiêu và giờ đây đã bạc trắng, đã sáu mươi rồi còn gì! Thật là “thời gian thắm thoát thoi đưa, nó đi đi mãi không chờ đợi ai”.
Hôm nay trở lại chùa xưa, lòng tôi nao nao, tâm trạng của một người đi xa lâu ngày nay trở về nhà… Cảnh chùa giờ đã đổi mới hoàn toàn, nguy nga và đồ sộ và kiên cố vững chắc hơn. Lối lên chùa đã đổi hướng và xây mới bằng đá chẻ, bậc cấp vừa tầm bước cho người có tuổi lại thêm có ống sắt vịn gắn dọc theo một bên lối đi, thật là hoàn chỉnh, chu đáo.
Mặt tiền ngôi chánh điện đã khác hẳn, đã được nâng cấp bằng bê tông vững chắc, có mái cong, có ngói âm dương đời mới, trên đỉnh có hoa văn có bánh xe pháp luân, hai bên có rồng có phụng vờn mây, nền nhà đã lót gạch men láng bóng không còn những mảng xi măng nứt nẻ như ngày nào. Hai bên là hai phòng chuông trống Bát nhã, trước bậc thềm hai bên là hai con sư tử đá trườn mình phủ phục. Sân chùa rộng hẳn ra, bức chắn phong to lớn án ngữ sân ngày nào nay đã dỡ bo, sân đã được láng bằng phẳng không gồ ghề sỏi đá như ngày xưa. Cái gì cũng mới cũng lạ, hoa kiểng xanh tươi đầy khắp xung quanh, sau trước. Làm sao mà không ngỡ ngàng một khi bên này sân chùa đồ sộ bức tượng đài Di Lặc với nụ cười hoan hỷ, an lạc mặc cho bao chú nhóc đeo bám quanh Ngài. Bên kia, đối diện là tượng đức Văn Thù đang cưỡi trên mình con sư tử, nét mặt đầy vẻ uy nghiêm, mắt sáng nhìn thẳng và sâu, thể hiện một trí tuệ siêu phàm, đúng là đức Văn Thù đại trí. Thật là khâm phục bàn tay vàng của nghệ nhân nào đó đã tạo nên. Tôi nôn nao, lòng hồi hộp khi bước chân vào chánh điện sau hơn 30 năm xa cách.
Tôi giật mình, không phải Ngài, đức an vị trên tòa sen bát la kia không phải là Ngài, Ngài đã vân du về đâu? Đã về cung trời nào? Hay đã an tọa ở một ngôi cổ tự nào trong cảnh giới này. Ngài đã bỏ con! Bất giác hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má già nua của tôi, dù tuổi đời có bao nhiêu tôi vẫn còn bé bỏng, vẫn là đứa con dại khờ của Ngài. Tôi tần ngần giây lát, bên tôi mọi người đang cung kính đảnh lễ… Tôi giật mình tự nhủ: “mình đang chấp tướng”, tôi vội vàng lạy xuống, cái lạy thiếu tâm năng, lạy lần hai tôi thở đều nhẹ nhàng ba hơi, tâm tôi hơi có chút an bình, tôi vẫn chưa dám nhìn Ngài. Cái lạy lần ba thở đều và thật sâu, tôi thật sự bình an và ngước nhìn Ngài. Ngài cười, nụ cười như dành riêng cho tôi… tôi cảm nhận như Ngài nói với tôi: “Ta đây mà! Làm sao thấy được Ta, khi con nhìn Ta bằng con mắt thịt của con. Con có hiểu nhìn bằng con mắt vô tướng là gì không? Có cái thấy không phải bằng mắt mà thấy bằng tuệ giác”.
Tường thành giờ đây đã gắn đầy ô linh cốt, cuối cùng rồi lá cũng rụng về cội, bao nhiêu vong linh rồi cũng quay về nương nhờ cảnh Phật. Đoàn quán ngày xưa nay đã sửa sang lại làm nơi thờ đức Đạt Ma tổ sư, vừa trang nghiêm vừa ấm cúng. Mỏm đá gồ ghề kế bên, giờ đây đã là tháp chuông chắc chắn vững vàng lồng trong là một chiếc đại hồng chung, đêm đêm tiếng chuông vang vọng nhắc nhở chúng sinh sớm lìa ác đạo quay về nẻo thiện. Còn nữa, ngôi tịnh thất, ngôi nhà cấp bốn giờ đã là một tòa nhà bê tông 2 tầng vững chắc, bề thế. Tầng trên thờ cố Hòa thượng Thiện Minh, ngày xưa ngài cũng đã từng ở đây, tầng dưới làm nơi sinh hoạt, tiếp khách, trai Tăng, nơi đây hằng mỗi tối thứ ba Đoàn Cựu huynh trưởng được Thầy trù trì giảng pháp.
Sân trước đã uy nghi, hoành tráng với hai tượng đài hai bên thì phía sau là một đài cao mà đức Quán Âm đã đứng tự bao giờ. Ngài đưa mắt nhìn ra biển đông, xuống chợ Đầm và một khoảng lớn thành phố. “Từ nhãn thị chúng sanh”, mắt thương nhìn cuộc đời, ai nhìn thấy Ngài mà không hồi tâm! Ai gặp Ngài mà không dừng lại những mưu toan, những ác ý. Đài Quán Âm nơi đây là thích hợp nhất với chùa. Một công trình nữa, tuy nhỏ hơn, khiêm nhường hơn, nhưng cũng rất công phu và được trau chuốt trong việc xây dựng: đó là tịnh thất của Thầy trù trì, Thầy Trí Viên, thật là đúng như pháp danh của Thầy. Trí tuệ và trình độ Phật pháp của Thầy đã tiến dần đến mức viên dung. Thật là may mắn cho chùa ta biết bao nhiêu khi được Thầy về trú trì.
Cám ơn Thầy, cám ơn quý bác trong Ban hộ tự và toàn thể quý bác hội viên của chùa đã đóng góp tịnh tài tịnh vật, đã hao tâm khổ tứ ròng rã bao nhiêu năm trời để có được một cơ ngơi hoành tráng hôm nay. Chùa đã trở thành một địa điểm du lịch giá trị của thành phố Nha Trang. Ước gì giờ đây còn quý bác Kỳ, bác Lân, bác Tường, bác Hợi, bác Năm, bác Tân và biết bao nhiêu bác mà giờ tôi đã quên… tất cả cùng về đây chia vui, mãn nguyện với cảnh chùa ta hôm nay.



