Thanh bảo tôi:
- Tối nay khai giảng Lớp cư sĩ áo Lam, chị đi học không?
- Ở đâu vậy?
- Chùa Long Sơn - 7 giờ tối.
Tôi ừ và hẹn đến nhà tôi để cùng đi.
Nhóm chúng tôi sinh hoạt cùng chùa Hội Phước được hơn 30 người, học giáo lý, tổ chức văn nghệ trong những dịp lễ Phật đản, Vu Lan được vài năm, vì chùa xây dựng lại nên những sinh hoạt này phải ngưng. Phần vì tôi bận hàng tuần vào chiều chủ nhật ở Kỳ Viên, còn những bạn trong nhóm phần vì bận rộn gia đình, sinh kế, nên điều kiện gặp gỡ khó khăn, gắn bó nhất với tôi còn lại Thanh và Mai.
Chúng tôi đến Long Sơn chưa đến 7 giờ, nhưng trong phòng học không còn chỗ trống, ba chúng tôi đứng tựa lan can cuối phòng. Ngày khai giảng nên chưa học gì, chỉ ấn định ngày, giờ học, giới thiệu giảng sư nội quy v.v… Hai tuần sau, tôi quay lại lớp học - vì bận việc không đi được. Vẫn ngồi cuối phòng, dựa hành lang. Chỉ nghe tiếng lao xao của các học viên chung quanh, trên kia thầy giảng những gì không rõ, tôi bảo Thanh:
- Hôm sau mình đi sớm lên trên kia ngồi, ở tít dưới này không nghe gì hết.
Buổi học sau tôi đi thật sớm, trong lớp chỉ có mấy bàn có người, tôi chọn chỗ gần giữa lớp ngồi xuống. Một khuôn mặt búp bê quay sang bảo tôi:
- Chỗ này có người ngồi rồi chị.
Tôi đứng lên dời xuống bàn dưới - vẫn giọng búp bê:
- Chỗ đó cũng có người ngồi rồi!
Lần này thi tôi kinh ngạc thật sự - ghế trống rất nhiều nhưng tôi chẳng có chỗ nào, nhìn quanh, thấy một chiếc ghế trụi tôi cầm lên vòng qua phía bên kia, chọn một chỗ sát tường, lớp học đông dần, tiếng thầy giảng qua âm thanh tiếng được tiếng mất, đang lắng tai nghe, một tiếng nam đập vào thính giác:
- Chị đó xứng đôi với bác ghê.
Thoạt đầu tôi không chú ý lắm, nhưng câu nói ấy tăng thêm cường độ âm thanh, tôi dưa mắt nhìn, mấy dãy bàn đều toàn đàn ông, chủ nhân của câu nói đó là một thanh niên trạc 25 - 27 tuổi, mắt nhìn tôi cười láu lỉnh, ba, bốn gương mặt chăm vào mà cười. Tôi nghiêm mặt nhìn trả lại với đôi mắt mang hình viên đạn. Những nụ cười dần tắt, anh chàng thanh niên nọ là người sau cùng trong đám lộn xộn chào thua gương mặt hình sự của tôi, dời mắt lên bảng chăm chú nhìn thầy.
Hết giờ, tôi dắt xe ra về, lòng tràn đầy thất vọng, bực tức bảo Thanh: chị không đi học nữa!
Đó là chuyện của 7, 8 năm trước.
***
Sau buổi lễ sám hối, Thanh rủ tôi:
- Đi học không chị?
Tôi đã nghe Thầy Kỳ Viên thông báo về buổi khai giảng lại lớp áo lam trong buổi học giáo lý của Đoàn Cựu huynh trưởng. Cười cười tôi hỏi vặn lại:
- Có chỗ ngồi không, hay lại bị đuổi như mấy năm trước?
- Hổng sao đâu, ngồi với tụi em.
Ngày mai tôi theo Thanh lên trường, lớp vẫn đông, chúng tôi ngồi vào dãy bàn giữa phòng. Lần này thì tôi hên hơn mấy năm trước, chị Phước, một chị bạn quen biết dời xuống bàn dưới ngồi với lý do:
- Nhường chỗ cho chị Loan đó nghe.
Tôi cười cám ơn. Buổi học trôi qua vui vẻ. Từ đó tôi chăm chỉ tuần 3 buổi tới lớp.
***
Sáng nay, tôi về quê sớm, không kịp ăn điểm tâm. Quê nội tôi ở Vĩnh Điềm, chỉ cách phố chưa đầy 4 km. Thắng, con trai em tôi vừa qua đời vì tai nạn lao động trong lúc làm việc, tuổi mới vừa 25. Tuần trước tôi mới gặp nó ở buổi tiệc cưới của em gái Thắng. Nét bẽn lẻn, hồn hậu thấp thoáng trong nụ cười của thằng con trai mới lớn khi nghe tôi hỏi:
- Có bạn gái chưa Thắng?
…
Trong sân, bà con đầy đủ đang ngồi bên mấy chiếc bàn tròn kê dưới tàn cây xoài to, nghiêng mình che bóng nắng, tiếng khóc từ nhà trong vẳng ra ai oán. Tôi ngắm khuôn mặt trẻ thơ trong ảnh của Thắng, bùi ngùi. Nỗi đau của người mẹ mất con, phải trải qua một thời gian dài em tôi mới nguôi ngoai được.
Tôi bước qua nhà từ đường, sau khi ba mẹ tôi mất, anh trưởng quản lý. Bé Hân đang ngồi với mớ đồ chơi lăn lốc, nhanh nhảu thưa:
- Chào bà Bảy.
Tôi ngồi xuống, vuốt mái tóc lưa thưa của cô bé 5 tuổi.
- Bé Hân ăn sáng chưa?
- Dạ rồi.
- Con học lớp mấy rồi?
Đôi mắt bồ câu trong veo ngước nhìn tôi.
- Con bệnh nên mẹ cho nghỉ học.
Tôi im lặng ôm con bé vào lòng, tấm thân gầy gò, nhỏ bé nép sát vào tôi. Hơn năm nay, sau khi phát hiện cháu bị ung thư máu, mẹ con bé Hân ăn cơm bệnh viện nhiều hơn cơm nhà. Những chuyến đi Sài Gòn ngày càng dài hơn.
Ngoài kia, nắng đã lên rực rỡ, tiếng chim câu gù gù trên mái, giọng hót rảnh rang của bọn chích chòe ngoài vườn mai vọng lại. Cuộc sống chung quanh tôi đang rộn ràng, không đếm xỉa đến những đau thương, mất mát của gia đình tôi. Nước mắt cứ lăn và dòng đời cứ phăng phăng đi tới.
***
Cuối cùng, bé Hân cũng đến lúc rời bỏ chúng tôi, tàn tro của một kiếp nhân sinh nằm gọn ghẽ trong hủ gốm tô vân hồng xinh xắn. Bé Hân chiếm một góc trong chung cư của dòng họ ở chùa Hoa Quang, nơi trụ trì của ông Nội tôi trước kia. Bây giờ tôi càng thấm thía hơn 2 chữ vô thường! Nơi chôn mồ kia đâu phải chỉ có người già? Lúc này mà tôi không gắng học liệu thời gian cho tôi còn bao lâu nữa? Cuộc sống ngắn ngủi trong một hơi thở mà thôi. Tôi tự trách mình vì bản ngã to quá, nếu không tôi đã tham gia lớp áo lam từ những năm đầu tiên. Tôi vòng qua sân chùa đến tháp ông nội. Làn khói lan nhẹ nhàng vương vấn trên hàng chữ nho uyển chuyển khắc ở bia, tôi thì thầm: “Nội ơi, con cố gắng để xứng đáng với Nội nghen Nội.”
Chiều dần, những giọt nắng cuối ngày thấp thoáng trên hàng dừa cao vút. Tiếng chuông chùa ngân nhẹ, thanh thoát trong không gian im lắng. Tôi đi chầm chậm ra cổng. Mảnh đất này đã từng in dấu chân ông tôi, bóng dáng người con phảng phất trong từng ngọn cỏ, thân cây. Không, người đang ở trong tôi, tôi là sự tiếp nối của ông, của cha, mẹ tôi. Ngắm vành trăng non lơ lửng trong sáng chiều phía xa xa, lòng tôi dịu lại. Những đau thương tiếc nuối, khổ hận, do ta ôm níu chặt không rời để rồi vật vã theo ngày tháng. Đời vốn đã vậy rồi mà? Tôi hát khẽ bản nhạc được phổ từ lời Trung bộ kinh.
“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập”.
Tôi thở một hơi dài. Quá khứ đau thương ơi, xin giã biệt.



