Một lần nữa, mùa thu vàng lại trở về trong lòng thiên nhiên, đất trời, vũ trụ bao la chan hòa trong lòng trắc ẩn, bi cảm, hoài niệm, diệu vợi của mỗi con người, nhất là người con Phật. Rằm tháng Bảy âm lịch, nhân ngày Đại lễ Vu Lan, Báo Ân, Báo Hiếu, dưới ánh từ quang vi diệu của Đức Từ phụ Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật và Hồng ân mầu nhiệm của Tam Bảo, Mười phương Ba đời, chúng ta thành tâm kính cảm trước đạo lực phi thường, uy dũng chánh trực và thần thông quảng đại của Tôn giả Mục Kiền Liên Bồ-tát (Mahà Bodhisattva Moggallàna) và chí thành tri ân, ghi tâm tác dạ, noi gương truyền thống Hiếu hạnh cao đẹp, thánh thiện và bất diệt của ngài đã đem lòng bi cảm, chí hiếu dấn thân vào địa ngục cứu Mẹ, đồng thời thiết tha cầu thỉnh, nương nhờ vào oai lực, tịnh đức và đạo hạnh của Thập phương Tăng hộ niệm, chú nguyện vào dịp Lễ Tự tứ mà Mẹ ngài được thoát khỏi chốn u đồ khổ não, trầm luân, báo đáp rốt ráo, hoàn mãn công đức sinh thành, giáo dưỡng cao như núi ngàn, rộng như biển cả của song thân phụ mẫu.
Vui thay, hiếu kính Mẹ
Vui thay, hiếu kính Cha
Vui thay, kính chư Tăng
Vui thay, kính Hiền Thánh.
(Kinh Pháp Cú: 332)
Như thế là hạt ngọc Minh châu vô giá, thuần khiết, bất hoại và tỏa sáng lung linh, huyền diệu. Cũng vậy, nói đến ngài là đề cập đến sự tích lũy, tiềm tàng và hiển hiện của một con người có phong thái giao thoa thù thắng giữa hai đặc trưng nổi bật siêu xuất, ấy là: Đạo hạnh, Thắng pháp siêu việt, và Hiếu đạo, Hiếu hạnh tuyệt diệu. Đúng như ngài Quy Sơn từng dạy:
Chỗ diệu lý thực tế
Không còn chút dấu vết
Nhưng trong cửa muôn hạnh
Không bỏ sót việc gì.
(Thực tế địa lý, bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung, bất xả nhất pháp)
Trước khi cảm nhận thẩm thấu được sự phản chiếu ánh sáng của hạt ngọc Minh châu Hiếu hạnh truyền thống rạng ngời muôn đời ấy của ngài, thì chúng ta vô cùng cảm kích trước con đường đạo nghiệp đầy uy lực, Thắng pháp và Đạo quả giác ngộ, giải thoát của ngài.
* Bậc Đạo hạnh, Thắng pháp và thần thông quảng đại:
Đi ngược dòng lịch sử, khởi đầu cũng như ngài Xá Lợi Phất, đức Mục Kiền Liên nguyên là một thủ lĩnh của giáo phái San-Sa-Dạ (Du sĩ lõa hình thích ứng). Vì là những thủ lĩnh, nên việc tìm hiểu về Đức Phật, về Giáo lý của Ngài, lúc bấy giờ đang lan rộng dọc bình nguyên sông Hằng, được hai vị lưu tâm theo dõi tận tường, thấu đáo, nhất là ngài Xá Lợi Phất.
Một ngày nọ, trong thành Vương Xá, ngài Xá Lợi Phất chú ý bám theo sau một vị khất sĩ: quan sát, khám phá, tìm cầu và đã được đáp ứng toại nguyện, Diệu pháp, tương truyền:
Diệc phục tùng duyên diệt
Ngã Phật đại Sa Môn
Thường tác như thị thuyết.
(Muôn vật từ duyên sanh, lại từ duyên mà diệt, Đức Phật của chúng tôi đã từng giảng như vậy.)
Chính ngay tại đây, “Sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” được xuất hiện, dù ngài Mục Kiền Liên chỉ được nghe bài kệ ấy qua sự truyền thọ của ngài Xá Lợi Phất, song sự “Tương ứng” và “Tương cầu” kia chính là một, nhất như. Tâm tư hai ngài bừng sáng tỏ - minh nhiên - thấy rõ vấn đề trọng đại được đặt ra từ bài kệ ấy: Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh, và cũng do nhân duyên mà diệt. Thật vậy, giáo lý Duyên sanh hay Duyên khởi là giáo lý được chứng ngộ bởi Đức Thế Tôn. Ngài dạy rằng: “Ai thấy được duyên khởi là thấy pháp, ai thấy được pháp là thấy Phật.” Giáo lý duyên khởi là quan điểm trọng yếu của đạo Phật, bao gồm cả hai mặt Nhân sinh quan và Vũ trụ quan, nói lên thực tính vô thường (đứng về phương diện thời gian), vô ngã (đứng về phương diện không gian) của vạn pháp. Duyên khởi là thực tại, và thực tại là bất định tính. Do vậy mọi sự đều tương đối, tương quan và tương duyên. Mục đích chính của Đức Phật dạy về Giáo lý Duyên khởi là buông xả mọi vướng mắc, mọi chướng ngại về nhận thức, tư duy, tình cảm và tri giác sai lầm cùng các giá trị phi thực, huyễn hoặc khác của vũ trụ và nhân sinh để thực hiện sự trở về vĩ đại, là thực tại Vô ngã, Giác ngộ, Giải thoát và Niết bàn.
Và chính từ sự minh nhiên - Thấy duyên khởi - Thấy pháp - Thấy Phật đó, ngọn đèn tuệ giác được thắp sáng, bức màn vô minh được phá tan, tiếng cười của sự giác ngộ được bật lên từ sự sáng tỏ ấy, đã giải phóng cho một bế tắc cố hữu về một con đường, mà hai ngài đã thức tỉnh từ trong lòng giáo phái cực đoan của mình. Giả sử quá khứ như đêm trường tối tăm, mịt mùng vô định là điều tất yếu, hai ngài đã đi về với Đức Phật, với Giáo đoàn cùng với tất cả các môn đồ du sĩ cũ xưa:
Sau đêm trường mịt mù u tối
Giữa rừng hoang lõa hình giáo phái
Ngọn đèn Chánh Pháp thắp sáng soi
Màn vô minh phá tan thắng Pháp.
Đức Phật đã minh chứng hai vị đại đệ tử xuất chúng: Một con người của Đại trí tuệ là ngài Xá Lợi Phất; một con người của Đệ nhất thần thông là ngài Mục Kiền Liên. Và Đức Phật cũng đã xác chứng về người đệ tử thứ hai của mình như sau: “Đại đức Mục Kiền Liên là một vị khất sĩ rất công ngôn chánh hạnh, có nhiều dũng khí và thần thông quảng đại, từ kim khẩu luôn phát ra ngôn cương trực, chánh lý và đầy uy lực nhất của Giáo đoàn khất sĩ. Khi cần phải tuyên bố lập trường của Giáo đoàn hoặc của Giáo pháp, Đại đức bao giờ cũng sáng suốt, kiên định, trực tính nói thẳng, không bao giờ chấp nhận sự thỏa hiệp phi pháp, yếu hèn, vọng động vô minh. Chính vì lý do này, mà giới ngoại đạo có nhiều kẻ thù đối với Đại đức.”
Và đây cũng là bản đúc kết quá trình hành trì đạo hạnh của Tôn giả. Chính nhờ cái dũng khí cương trực, không thỏa hiệp mà hai Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã làm tan rã các Giáo hội do Đề-Bà-Đạt-đa mang âm mưu đen tối thỏa hiệp với kẻ giết vua cha, là Thái tử A-Xà-Thế lập nên. Nói khác hơn, một thỏa hiệp đầy tội ác từ hai kẻ Tăng - Tục, và chính tội ác phá hòa hiệp Tăng này của Đề-Bà-Đạt-Đa - một kỷ cương giới luật nghiêm minh hệ trọng lưu truyền cho muôn đời sau như khuôn vàng thước ngọc.
* Bậc Hiếu đạo, Tâm hạnh, Hiếu hạnh.
Đức Phật dạy: “Hiếu hạnh vi tiên” (Hạnh hiếu là hạnh đứng đầu trong muôn hạnh). Khi mà dòng suối hiếu hạnh thật trong lành, sâu lắng nơi tâm thức của Ngài luôn trào một cách vô bờ bến, chính vừa lúc trở thành Bậc Thắng pháp. Vị A-La-Hán Đệ nhất thần thông, đạo hạnh và đạo lực viên mãn, Tôn giả vô cùng bi cảm, ưu tư và thương xót Mẹ vô cùng. Chính tâm trạng này được kính cảm thổ lộ trước Đức Phật: “Nỗi buồn thấm thía của con phát sinh từ ý nghĩ, con không làm gì được để giúp Mẹ con lúc bà còn sống và con cũng không thể làm gì được để cứu giúp sau khi bà lâm chung”. Đức Phật thấu triệt, đồng cảm với lòng đại từ bi bao la khôn lường!
Dường như, đây chỉ là cách nói khiêm cung của một vị A-La-Hán, thật ra Tôn giả Mục Kiền Liên đã vận dụng mọi phương tiện để chuyển hóa Mẹ ngài lúc sanh tiền, song trước hành động tham lam ác độc đầy nghiệp báo do Mẹ ngài đã tạo ra lại thuộc về tánh tội, trở thành sâu nặng, đẩy lùi các thiện pháp mà Tôn giả đã dùng phương tiện mang đến để cứu độ cho Mẹ ngài. Ngài dự cảm buồn thương, lo lắng cho một quả báo khốc liệt ắt sẽ đến với Mẹ ngài lúc lâm chung…
Quả thực, Bồ-tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả (Bồ-tát úy nhân, chúng sinh úy quả), cái quả báo mà Mẹ ngài nhận chịu ở địa ngục thật khủng khiếp, và thế rồi nỗi kinh hãi của một chúng sinh thật đáng bi thương khi đối diện trước mọi cực hình của địa ngục: “Nghiệp lực chiêu cảm của tâm thức, cơm đã biến hóa thành than hồng, phải nhả ra mà không thể nuốt vào được…” Nước mắt của tình mẫu tử bao giờ cũng chảy xuống, nỗi niềm khẩn thiết dâng trào thôi thúc, vậy thì vấn đề còn lại ở đây là làm sao chuyển hóa được nghiệp ác cho Mẹ, để thoát ra khỏi địa ngục ghê rợn đáng sợ này; “Mê nhất kiếp, ngộ nhất thời”, vào trong cảnh giới địa ngục, khó bề nảy sinh một niệm thiện mảy may nào, huống hồ là tâm niệm thiện được hồi sinh, nói khác hơn là hạt giống thiện đã bị thiêu rụi, tro tàn và nguội lạnh. Thiết tưởng, chính lúc này mà hạnh nguyện cao cả như ngài Đại Địa Tạng Bồ-tát (Mahà Bodhisattva Ksitigarbha) từng thề nguyện rằng: “Khi nào địa ngục chưa hết tội vong, thì tôi chưa thành Phật, tôi nguyện độ tất cả mới chứng quả Vô thượng Bồ-đề (Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ-đề). Với tôn chỉ, chiếu ánh sáng trí tuệ phá tan địa ngục tối vô minh, ý nghĩa của lời thề này, nhằm mục đích gần gũi với tội vong để tác động niềm thiện lên tâm thức họ, để họ khởi tâm chí thành sám hối nghiệp ác quá khứ của mình, tạo ra niềm an vui Tịnh độ cho tâm niệm địa ngục, mở cho họ con đường thoát khỏi địa ngục trầm luân ấy, và có lẽ không bao giờ ngài Địa Tạng Bồ-tát thành Phật chăng?!
Đứng trước thực trạng thống thiết chiêu cảm ác nghiệp báo ứng của Mẹ, Tôn giả Mục Kiền Liên lại không phải là ngài Địa Tạng Bồ-tát, mà đích thân cứu độ Mẹ! Người con hiếu hạnh này phải thực hiện bằng cách cầu nguyện đến đạo lực của thập phương Tăng, như lời dạy của Đức Phật: “Đến ngày lễ Tự tứ, Tôn giả cần phải đảnh lễ, cầu thỉnh, cúng dường, nương nhờ Mười phương chư Tăng chú nguyện mới hy vọng cứu độ trọng tội của Mẹ Tôn giả”. Thực vậy, tiến hành Pháp Tự tứ tức là có thành tâm sám hối, thanh lọc làm mới, mà đã phát lồ sám hối tức là đạt được sự thanh tịnh tam nghiệp: Thân-Khẩu-Ý, nuôi dưỡng và phát huy Tứ vô lượng tâm: Từ-Bi-Hỷ-Xả, đầy đủ và hoàn thiện hạnh nguyện tự độ và độ tha. Và chính nhờ sức chú nguyện, xuất phát từ giới hạnh thanh tịnh, tạo nên định lực và đưa đến tuệ giác, đạt được năng lực hủy diệt thống khổ và đã hình thành sự tế độ trong biển cả thanh tịnh vi diệu, chính nhờ sức mạnh thiền định và lòng Đại Từ Đại Bi của Thập phương Tăng đã tạo thành một pháp giới an diệu bao quát cả ba cõi và nhờ đó mà chúng sinh trong ba cõi đón nhận được sự cứu độ giải thoát. “Đức trọng qủy thần kinh” là thế, và địa ngục trở thành Tịnh độ, Niết bàn ngay giờ hiện tại là vậy. Và cũng ngay tại Pháp giới an tịnh ấy, cánh cửa được rộng mở, vẫy chào, lành thay! Mẹ của Tôn giả đã đón nhận trực tiếp được sự chú nguyện tổng hòa diệu lực của Thập phương Tăng, tái sinh khởi được niệm thiện, chủng tử tỉnh thức được thắp sáng, phát tâm tỉnh giác, khởi niệm Từ Bi, tin sâu vào Tam bảo, rời khỏi chốn u minh và xa lìa nẻo ác, đạt được cái “Ngộ nhất thời”, nên liền sau đó giải thoát khỏi địa ngục và sanh lên cõi Trời. Hy hữu thay! Nhân từ đây, Tôn giả Mục Kiền Liên trở thành một người con hiếu hạnh lưu lại cho muôn đời sau, xứng đáng là hạt ngọc Minh châu Hiếu hạnh tỏa sáng lung linh, huyền diệu vô song, quý giá khôn cùng và vĩnh hằng bất diệt.
Thể theo lời Đức Phật dạy: “Phàm làm người phải luôn thắp sáng sự hiểu biết về ân nghĩa và phát huy sự báo đáp ân nghĩa ấy”. Mùa Vu Lan Báo ân, báo hiếu hàng năm, chính là thời gian quý báu để chúng ta gợi nhớ lại ý nghĩa của phương pháp cứu khổ, giải thoát, ban vui cho tiền nhân, ân nhân và với tinh thần “Tri hành hợp nhất” thể hiện một cách thiết thực lòng hoài ân, tri ân, báo ân đối với Tứ trọng ân: Ân cha mẹ, ân quốc gia, ân Sư trưởng, ân Tam bảo (Chư Phật, Chánh pháp, Chư Bồ-tát, Hiền Thánh Tăng).
Ngay ở đây, vấn đề trọng đại sâu xa và thiêng liêng chính là biểu hiện sự báo đáp thâm ân một cách trọn vẹn, hoàn mỹ, thì không chỉ dừng lại ngay trong đời này. Bởi vì dòng tuần hoàn, luân hồi quá nhiều chu trình sinh tử, với bao nhiêu ân nghĩa trùng trùng điệp điệp, đời đời kiếp kiếp… như một dòng suối Thanh lương tràn đầy Từ Bi yêu thương bao la với trí tuệ hiểu biết tận tường tuôn chảy vào dòng sông Hiếu hạnh trong tâm thức của con người, thực tại phản ánh một cách thiết thực sâu sắc rằng: Một nền văn minh nhân loại đậm đà bản sắc của tình hiếu nghĩa, tình thương yêu, tình đồng loại, phải tiên quyết mở đầu luôn bằng Hiếu hạnh cao thâm, thì chắc chắn luôn đem lại an lành, ôn hòa và phước báo cho mọi con người, và cõi thế gian luôn hưng thịnh, an hòa và thanh bình trong cả quá khứ, hiện tại và vị lai.
Trăng tròn rằm tháng Bảy, dưới ánh Từ quang thù thắng của Thập phương Tam bảo, noi theo tấm gương truyền thống Hiếu hạnh cao cả và thiêng liêng của ngài Mục Kiền Liên, chúng ta bằng tâm ý chí thành, hành động trong sáng, đời sống thanh cao phù hợp với Chánh Pháp, tận tâm, tận lực dốc hết tất cả những gì cao quý, ý nghĩa nhất của đời mình và thành tâm cầu nguyện Hồng ân, Diệu lực của Thập phương Tam bảo hồi hướng công đức phước huệ đến với Tứ trọng ân, nhất là ân cha mẹ. Cha mẹ hiện tiền tăng trưởng phước lành, quy hướng về Chánh pháp, có Chánh tín, Chánh kiến, Bồ-đề tâm kiên cố và an nhiên tự tại trong cuộc đời với mọi thời gian, nhất là an trú trong hiện tại. Cha mẹ quá vãng luôn thành tâm sám hối, vạn tội chướng băng tiêu, chuyển hóa nghiệp báo ác, tốc xả chốn mê đồ và siêu sanh miền tịnh lạc.
Mỗi cõi lòng, với hạnh nguyện “Ngôn hành song hành” tha thiết chí hiếu, thắp sáng tâm hạnh, thực hành hiếu hạnh một cách thiết thực, trọn vẹn và mỹ mãn như vậy, mới mong báo đáp được thâm ân của bốn ân nặng trong muôn một. Mới xứng đáng là một hạt ngọc Minh châu Hiếu hạnh tiềm tàng và hiển hiện trong từng hơi thở Chánh niệm điều hòa, từng nhịp tim định lực hài hòa và từng bước chân Tuệ giác thanh thoát nơi cõi Vô thường thị thường - Một đóa hoa vô thường - Chơn thường - hiển thị tỏa sáng hạt ngọc Minh châu giữa mùa Thu Vàng Hiếu Hạnh:
Như bông hoa tươi đẹp
Có sắc lại thêm hương
Công ngôn và chánh hạnh
Đạo quả thật vô lường”
(Kinh Pháp Cú: 52)
Chùa Kỳ Viên, mùa Hạ, PL. 2551 - 2007



