Mùa hè năm đó, được tin Ông tôi đau nặng; gác việc học tập lại tôi vội vã về quê và từ đó được nghe bài Kệ tụng “Cáo Tất Thị Chúng "(2) vào ngày Ông tôi mất. Thuở sinh tiền, Người lấy việc đọc sách làm thú vui tuổi già; khi ngã bịnh cũng chỉ nhờ sách làm phương thuốc giảm đau.
Không gian nhà trên lúc này thật ảm đạm, mọi người trầm lặng man man, chỉ có giọng Chú tôi rung rung và cao cao như cố át tiếng khóc “oe…..oe”- đầy sức sống, của em bé mới sinh hai hôm từ nhà dưới vọng lên: nó bướng bỉnh như muốn nhắc mọi người “Tôi có mặt”.Chú nói:"-Cu tý mới chào đời hôm qua đó ...Ba ..." Ông tôi thở phào bảo Chú:"- Đặt cho nó tên CHI MAI "; rồi nhắm mắt im lặng cho đến khi mất.
Nhiều năm qua tôi vẫn bàng hoàng trước bài kệ ấy, lẽ nào vấn đề nặng nề, muôn thuở quen và lạ như SỐNG-CHẾT bỗng hóa ra nhẹ tênh như cánh mai vàng, rơi xuống màu vàng bát ngát mùa xuân trong bài kệ của một vị Thiền Sư:
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai”.
Thiên nhiên hiện ra chung chung thường tình như một qui luật:
- Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười.
Lòng lẩn thẩn tự hỏi sao Sư không đảo ngược lại? Người đời thường nghĩ đến “Khai” trước“Lạc” mà! Yêu hoa nở, hất hủi hoa tàn, chú trọng sự rực rỡ, viên mãn mà không thích héo tàn, rơi rụng. Phải chăng vì thế mà cuộc Hóa - Sinh của con người nặng nề nhất trong muôn loài?
Tâm vị Thiền Sư - đời Lý Nhân Tông có tên Lý Trường(1052-1096) được Vua yêu trọng, phải đạt đến mức độ thâm trầm, bát ngát mới nói như vậy. Hết thảy sự vật trong vũ trụ đều ở trong vòng Sinh- Hóa không ngừng, vì Hóa mà Sinh, cũng vì Hóa mà Tử. Hoa nở là Đạo mà hoa rơi cũng là Đạo.
Hai câu khác nhau hai cặp từ Khứ – Đáo, Lạc – Khai. Thế mà với bốn chữ đó trần gian đã quằn quại trong Tử - Biệt - Sanh - Ly. Chuyện xưa kể có một Ông vua Ấn Độ hỏi một nhà Sư: “Trên đời có gì lạ nhất?”- Sư trả lời: “Lạ nhất là ai cũng phải chết mà người ta cứ làm như mình sống mãi”. Nguồn sống vĩnh cữu vô biên “Bất Ứng Biến Vị Ứng”(3) ; cứ như nước chảy dưới cầu, còn ta, ta đứng trên cầu (4).
Khổng Tử, nhìn bốn mùa qua lại, muôn vật sinh hóa đã phải thốt lên: “Thiên Hà Ngôn Tại-Tứ Thời Hành Yên –Bách Vật Sinh Yên” (5). Trang Tử xoạc chân gõ chậu hát khi vợ qua đời cũng chỉ hiểu đường sinh tử là lối vào, ra của vạn vật. Đức Phật trước khi sắp nhập Niết Bàn chỉ im lặng cầm cành hoa giơ lên. Đối với bậc Giác ngộ nhẹ nhàng thay chuyện Đi - Ở - Sống - Chết . Nhưng người đời chằng chịt trong những quan hệ rối rắm trong thất tình lục dục, lại xem đó là bi kịch của kiếp người. Làm thế nào để sống Thanh Thản khi biết chắc mình sẽ chết? Sư cũng là con người, có bịnh nghĩ về cái chết. “HỮU SINH ẮT HỮU TỬ”. Có nở ắt có tàn... Thiên nhiên với sự Sinh - Hóa nhẹ nhàng đã nhắn nhủ với con người điều đó .
Tôi chợt nhớ đến Thiền Sư CHÂN KHÔNG (946-1001) khi trả lời câu hỏi một vị Tăng: “Sắc thân này hủy nát thì thế nào?” - đã ứng khẩu:
“Xuân lai, xuân khứ, nghi xuân tận
Hoa lạc, hoa khai, chỉ thị xuân”(6)
Vẫn những chữ Xuân: “Khứ”, “Lai”, “Lạc”, “Khai” ấy để nói về dòng chảy Sinh Hóa. Con người không thể tách rời dòng chảy vĩ đại ấy, nối tiếp nhau chảy đến vô cùng.
Vấn đề là làm sao chấp nhận dễ dàng, nhẹ nhàng điều đương nhiên ấy; đương nhiên mà vẫn bàng hoàng:
“Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai”
Cánh hoa rơi NHẸ mà vẫn BUỒN!
- Nỗi buồn ấy man mác thôi, như ngọn gió hư vô cứ âm thầm luồn lách xương tủy trần thế!
Triết gia Héraclitus (544 – 484) của Hy Lạp từng than: “Panta rei” (7) –Tất cả đều biến dịch. Khổng Tử đứng trước sự luân lưu bất tận ấy đã thở dài: “Trôi chảy mãi thế ư; ngày đêm không thôi” (8).
Còn Sư :“Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi”.
Mười Chữ thôi như : “Thuyền nhẹ chở đầy - Câu kệ chòng chành trên sóng nước - Dòng sông vĩnh cữu - Màu tóc trắng nhấp nhô!”
Cuộc chuyển hóa lớn lao của Vũ trụ trong đó có con người là bé nhỏ, gói trọn trong mấy chữ mà mênh mông như Biển lớn trong Tâm. Tôi hình dung vị Thiền Sư bịnh nằm bên cửa sổ chiêm nghiệm điều QUÁ, điều LAI, thấm “CỔ NHÂN SẦU BẠCH PHÁT”(9). Hương vị Thiền vấn vương Hương tục, nỗi buồn vương vấn câu thơ .Nhưng không kéo nó chựng lại mà chỉ làm nó lãng đãng trước khi bay cao. Âm hưởng câu 3-4 phảng phất như tiếng thở dài, nhẹ và sâu, nhưng không u uất như nhà thơ mênh mang sầu nhân thế :
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
– Nguyễn Du.
Cũng phải thôi, thời đại họ sống khác nhau quá! Trong các Triều đại phong kiến, triều nhà Lý đã từng được đánh giá là triều đại “Thuần Từ” nhất. Đó chính là nhờ ảnh hưởng Đạo Phật. Vâng! Một triều đại có thể làm vơi bớt hay nặng thêm “bể khổ” của kiếp người.
Có thể nói ý thức hệ “Tam giáo đồng nguyên” của đời Nhà Lý đều được Thiền Sư Mãn Giác thấm nhuần. Có thể nói Triết lý thâm sâu của nhà Phật. Có thể nói Vũ trụ quan Dịch lý của triết học Trung Quốc(10); phong thái khinh phiêu của Lão Trang: “Lạc nhiên tri mệnh” (11) của Nho gia ẩn, lộ trong từng dòng Kệ. Nhưng từ TRI - NGHI đến NGỘ là cả một chặng dài.
Một Đạo sĩ Ấn Độ từng nói: “Trước khi học Thiền, Núi vẫn là Núi. Được chỉ giáo Núi không còn là Núi. Khi giác ngộ Núi lại là Núi” - Sư lại là Sư. Bài Kệ là Biển, nơi của những con sông tư tưỡng lặng lẽ đổ về hòa tan trong đó, nó chỉ còn nghe nhịp thở của Sóng .
Bài Kệ ấy có 34 chữ: Thế mà như đứng trước đại dương mênh mông, và bé nhỏ, u u minh minh không thể nghe hết những điều Sóng nói. Nhỏ nhặt đấy, thường tình đấy, mà đầy bí mật và vĩ đại. Đơn giản, dường như không đáng lưu tâm, bỗng thình lình trở nên lớn lao vô lượng.
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
Tưởng chừng như mâu thuẫn thế mà không! HỦY DIỆT và BẤT DIỆT đều tất nhiên. SỐNG và CHẾT đều kỳ diệu. Duy trì nguồn sống vô biên của vũ trụ, biểu hiện qua sự tuần hoàn của thời tiết, nhịp điệu Sinh thành Hóa dục của muôn loài .
Văn thơ Thiền không dụng ý nghệ thuật. “Bất Lập Văn Tự, Trực Chỉ Nhân Tâm” để “Kiến Tánh”. Đó là yếu chỉ của Thiền học. Vấn đề ở chỗ độc đáo, thần diệu biểu hiện tâm linh giác ngộ nằm ở đâu trong mớ ngôn từ BẤT - ĐẶNG - ĐỪNG của Thiền gia? Và tôi chợt rùng mình đối diện với Nó, với cành Mai bé nhỏ từ trong bóng tối bao la, đầy bí mật hôm qua lại có mặt trong cảnh xuân tàn!
“Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành Mai.”
Chính cành Mai muộn ấy đã âm thầm khẳng định cuộc sống bất diệt, mùa xuân vĩnh hằng. Phải hiểu MAI là yêu ĐỜI lắm Thiền Sư mới để cành Mai ấy trong bài Kệ làm trước khi mất. Mai chứ không phải loài hoa khác, Một Cành chứ không phải cả vườn. “NHẤT CHI MAI”, chừng đó cũng đủ phủ định “Xuân tàn hoa lạc tận”.
Đứng đầu trong Tứ Hữu của người xưa, Mai có vẻ đẹp không kiêu sa, lộng lẫy như các loài hoa khác. Nhưng nghìn chữ trăm bài cũng không nói hết vẻ đẹp vừa ẩn vừa tỏa của Mai. Hội họa, Thơ, Văn đã “lụy” trước vẻ đẹp bền bỉ kín đáo, tao nhã, dịu dàng ấy. Lục Du đời nhà Tống viết trên một trăm bài về Mai vẫn thấy chưa nói hết. “Vịnh Mai Thi Tập Cẩm” gồm 289 bài chỉ viết về Mai. Tranh mực nước của Trọng Nhân vẽ những đóa hoa Mai đen – trắng tĩnh tại mà vẫn bát ngát màu nắng với đời. Loài hoa ấy thức dậy rất sớm để báo tin xuân – Tảo mai. Loài hoa ấy vẫn còn khi “xuân tàn hoa lạc tận” – Vãn mai; gầy guộc đấy mà không ngã nghiêng theo gió. Một cành đấy mà chẳng lẻ loi. Hoa nối hoa nụ nối nụ, sắc vàng ẩn trong sắc xanh, u hương thoang thoảng, căng mẩy sức sống, liên miên bất tuyệt. Hoa rụng kết trái, trái rụng cây con mọc... hiếm loài hoa nào có sức sống bền dai và quá trình hóa thân mạnh mẽ đến thế! Người yêu Mai bởi “cái đức lớn trong bồn hoa nho nhỏ”. Người mượn Mai để biểu hiện khí tiết, phẩm hạnh của mình. Kẻ sĩ “bất khuất” Cao Bá Quát cũng phải hạ bút:
... Nhất sinh đê thủ bái Mai hoa. (12)
Có người dịch cuối câu muốn thêm chữ “nở” cho rỏ ý. Thế nhưng, thơ cổ hàm súc, ngôn ngữ Kệ dè xẻn, đôi khi thêm chữ thường dẫn đến hẹp nghĩa. Nở hay tàn Mai vẫn là Mai; “Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân”. Tôi bỗng nhớ đến bức tranh “Đạp tuyết tầm Mai” trên chiếc lọ cổ trong một Thiền truyện: Ông lão tìm được một cành Mai tuyệt đẹp trên non cao giá buốt. Khi về làng qua cầu, ngoảnh lại, chỉ còn là nhánh củi khô. Nhánh củi khô ấy sao mà giống bộ xương con cá khổng lồ trong “Ngư Ông và Biển Cả” của E. HemingWay thế! (13)
Nhánh củi ấy, Nó nói lên thành bản trường ca về sức lao động, trong suốt chặng đường của con người,dù biết tất cả sẻ trở thành hư vô.Còn lại phải chăng là cành – Mai – trong – mắt – Ông – lão, mãi mãi đẹp ở khoảnh - khắc - vĩnh - cửu!
Cặp cuối của bài Kệ như bóng với hình. Câu trên tìm mình trong câu dưới. Đó cũng chính là hình bóng cuộc đời: Mong manh, bất định mà bất diệt! Gần một ngàn năm, cành Mai ấy vẫn lung linh tươi thắm trong dòng thời gian vô thỉ vô chung. Chút hương thầm nhắn gởi: Sống thanh thản, đi nhẹ nhàng. “Ta Ở, Ta Đi, Không Vĩnh Biệt.”
Có cành Mai ấy, mùa xuân của Thiền Sư sao mà xuân thế! Đích thị XUÂN ở sức sống kỳ diệu, vĩnh cữu của một Hạt Bụi.
Tôi chạnh nhớ một nhà thơ trong thời đại chúng ta, trước lúc đi xa để lại trong “Di Cảo thơ - Từ Thế Chi Ca: “ANH TỒN TẠI MÃI” :
“Không bằng tuổi tên mà như tro bụi
Như ngọn cỏ tàn, đến tuyết lại trồi lên”.
(Chế Lan Viên)
Cách ngần ấy thời gian. Thời đại lẫn ý thức hệ khác nhau lắm, sao tôi thấy họ gần nhau thế! Cả hai đều thấy đằng sau sự HỦY DIỆT là BẤT DIỆT.
Vâng ! Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi Mai.
Cành – Mai của Ông tôi vẫn còn đó, bây giờ em CHI MAI đã có thêm một “cành con” nữa. Còn Ông, vẫn ở đằng sau khung ảnh, nụ cười chừng phảng phất. Có lý chăng khi phát biểu theo cách Thiền: “Sự thật chết là sống”.(14)
MÃN GIÁC là một Thiền Sư. “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” là một bài Kệ. Sao tôi muốn gọi Sư là một nhà thơ bởi bài Kệ là một bài thơ đích thật, không dụng ý mà vẫn đượm màu nghệ thuật. Có cái gì đó cứ HÁT lên ở đây như là giai điệu của cuộc đời vậy ;giữa bao la và bé nhỏ, Bất Biến và Vạn Biến, Hủy Diệt và Bất Diệt, ĐẠO và ĐỜI, NGƯỜI và SƯ .
“Giá trị ấy như con sông, càng sâu chảy càng êm”, “Cáo tật thị chúng” là một dòng sông như thế!
Chiều xuống không ai ngăn được mặt Trời, sáng mai ra lại thấy mặt Trời. CẢM ƠN SƯ!
HUỆ KÍNH
“Năm tháng ấy, vẫn theo
(1) – “Ta ở, ta đi, không vĩnh biệt”. Ý thơ R. Waldo Emerson (1803-1882) -trong Brahma
(Thiền học Việt nam)
(2) - “Cáo Tật Thị Chúng” :
春 去 百 花 落, 春 到 百 花 開
事 涿 眼 前 過, 老 從 頭 上 來
莫 謂 春 殘 花 落 盡, 庭 前 昨 夜 一 枝 梅
(3)Vạn vật tuy không đồng nhưng vật cùng tất biến thì đồng tính-theo Dịch học
(4) Ngụ ý của Héraclitus
(5) 天 何 言 在, 四 時 行 焉, 百 物 生 焉:
Trời Đất (đâu) nói gì – Bốn mùa (vẫn) thay đổi – Trăm vật (vẫn) sanh vậy
(6) 春 來 春 去 疑 春 盡, 花 落 花 開 只 是 春
- Xuân đến xuân đi (nghi) ngờ xuân hết? Hoa rụng hoa nở vẫn là xuân .
(7) - “out change, toutcule” Tất cả đổi thay, tất cả trôi chảy, (lịch sử triết học phương tây)
(8) – Trong luận ngữ
(9) - Người xưa sầu bạc tóc
(10) - Kinh Dịch – Quẻ Càn; lời kinh : . .. 上 下 旡 常, 非 為 邪 也 - 進 退 旡 恆, 非 離 群 也.. .
(11) - 樂 然 知 命 - Yêu thiên nhiên hiể mệh đ?i
(12) - 十 載 論 交 求 古 劍, 一 生 低 首 拜 梅 花 :
Mười năm tìm bạn tri ân khó như tìm gươm cổ ,Trọn đời chỉ cúi đầu trước hoa mai thôi.
(13) - The old man and the sea (nghiên cứu E.Hemingway TS Lê huy Bắc)
(14) - The way of ZEN - Con đường của Thiền (Trí Hải dịch)
_



_-_Song___Chet___Dieu_Ky__(1).gif)