Lần đầu tiên đến chùa Thầy, không phải con đi tham quan hay ngắm cảnh, mà đi nuôi bệnh. Suốt cả tuần ở chùa, con chẳng biết Phật như thế nào cả? Trước lúc ra về, con mới dịp lên chánh điện lễ Phật. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt con là bàn thờ Phật. Chánh điện chỉ có một bàn thờ duy nhất, nhưng không phải bàn thờ bằng gỗ như các chùa khác, mà là một ao sen xi măng hình bát giác. Bên trong ao không có bùn và nước. Vậy mà sen nở thật nhiều, cả thảy 22 bông, không có lá, đủ màu sắc, xanh vàng đỏ trắng. Nhất là trên mỗi đóa sen đều có Phật, Bồ-tát, và Thanh Văn ngồi đứng đủ kiểu. Sen trong ao chia làm ba vòng. Vòng ngoài cùng chung quanh thành ao tổng cộng có 14 bông, ngự trị trên đó là 12 vị Thanh Văn ngồi bằng đồng, và 2 vị Hộ Pháp đứng đeo kiếm cũng bằng đồng. Vòng hai có 5 bông. Bông chính giữa thờ Phật Bổn Sư ngồi nho nhỏ xinh xinh. Bốn bông còn lại dành để dâng hoa quả. Vòng ba có ba bông thẳng hàng. Hai hoa nhỏ thờ Phật Đản Sinh và Bồ-tát Quán Thế âm đứng. Còn lại, một đóa hoa trắng tinh duy nhất to bằng ngai vàng của vua chúa ngày xưa thì thờ Phật Bổn Sư ngồi kiết già, trông thật trang nghiêm, cao khoảng một mét. Lư hương, hai tách nước, và bộ đèn đồng được đặt trên thành ao, ở mặt tiền, trông thật ngộ nghĩnh, nhưng cũng thật gần gũi với cô bé dân quê như con.
Hồi đó, con cứ nghĩ Thầy chắc chắn là dân miệt vườn. Khi xuất gia, tuy sống đời sống thành phố đô hội, nhưng Thầy vẫn yêu tha thiết cảnh thanh bình, yên tĩnh và trong lành nơi đồng nội. Sau khi vào chùa, con mới vỡ lẽ thầy là người thành phố. Ao sen Thầy xây xuất phát từ kinh Di Đà: “
Màu sắc hoa sen trong ao có bốn màu xanh vàng đỏ trắng, nhưng Thầy lại chọn màu trắng thờ Phật. Vậy màu trắng có ý nghĩa gì đây? Theo đoạn kinh Di Đà miêu tả : “Trì trung liên hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết”. Đoạn này tạm dịch (Hoa sen trong ao, lớn như bánh xe, màu xanh ánh ra ánh sáng xanh, màu vàng ánh ra sắc vàng rực rỡ của nó, màu đỏ ánh ra ánh sáng đỏ, màu trắng ánh ra ánh sáng trắng tinh khiết của nó, hương rất tinh khiết nhiệm mầu). Nếu như sen trong kinh Di Đà chỉ tánh Phật của mỗi chúng sanh, thì màu sắc hoa sen trong đoạn kinh này tượng trưng màu da của mỗi chủng tộc trên quả địa cầu này. Như chúng ta đã biết: Trái đất này có rất nhiều chủng tộc, nào là chủng tộc da đen, da vàng, da đỏ, da trắng... Phật Bổn Sư thuộc chủng tộc da trắng. Hơn nữa, theo tinh thần Phật giáo, chẳng phải màu trắng chỉ cho tâm hoàn toàn thanh tịnh vắng lặng, không còn một tỳ vết “vô minh hoặc” nào cả đó sao? Trong khi đó người đạt đến quả vị Phật mới không còn vô minh hoặc. Nhìn theo góc độ quang học, ánh sáng trắng của mặt trời chiếu xuống nhân gian là sự tổng hợp của ánh sáng bảy màu; cũng vậy hào quang trí tuệ của Phật cũng bao gồm cả ba trí của Thanh Văn, Duyên Giác Và Bồ-tát. Do đó, màu trắng Thầy chọn thờ Phật đã bao hàm những màu còn lại. Vì thế, theo con, Thầy chọn màu trắng thờ Phật là cách chọn thông minh và phù hợp nhất.
Nếu như kinh Pháp Hoa ba lần Phật phóng hào quang, thì kinh Duy Ma Cật, Phật lại hiện Tịnh độ ba lần. Ngôn từ tuy khác nhau nhưng đều nói về một chân lý “Pháp giới là nhất chân, là bất nhị” hay “Một là tất cả, tất cả ở trong một”. Thế thì, Thầy chỉ cần thờ Phật Bổn Sư thôi, cũng có nghĩa là đã thờ mười phương chư Phật rồi. Sao Thầy lại thờ Phật và Thánh chúng trong cùng một cái Ao sen chứ? Ao sen là cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà, đồng thời, cũng là cõi Ta bà ở thế gian này. Bởi vì, Tịnh độ không thể thành lập ngoài thế gian. Hễ tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Ta bà và Tịnh độ như nước liền sóng, như sắc liền tâm, như phiền não và Bồ đề, như Phật và chúng sanh không thể tách rời. Hơn nữa, thế giới này phàm Thánh đồng cư mà. Phật và chúng sanh không phải một cũng không phải khác, hễ mê là chúng sanh tỉnh ngộ là Phật. Vậy ao sen Thầy xây trên chánh điện tượng trưng cho cõi Ta bà, mà vị Giáo chủ cõi Ta Bà này là Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Công hạnh độ sanh là mục đích chính mà Phật xuất hiện ở đời. Do vậy, theo con, Thầy muốn tái hiện cảnh Bổn Sư đang thuyết pháp độ Tứ chúng; trong đó có cả Thánh lẫn Phàm; song sen của tứ Thánh đã dứt ái nên vượt lên khỏi nước; còn sen của lục Phàm vẫn còn đang chìm trong bùn vô minh, ái và thủ. Vì Thế, chúng ta không thấy sen của lục phàm trên bàn thờ.
Cách thờ Phật của Thầy chẳng giống ai, song khi bị chê, Thầy vẫn giữ lập trường của chính mình. Điều này chứng tỏ Thầy nghiên cứu rất kỹ trước khi xây. Dưới nhãn quang Phật giáo, Thầy đã áp dụng pháp môn bất nhị để xây bàn thờ. Một cái ao có tất cả Phật và tất cả Phật ở trong một cái ao.
Dưới mắt của các nhà văn hóa học, họ sẽ nhận ra ngay Thầy là người Á Đông chính hiệu. Tư tưởng Á Đông là tư tưởng tổng hợp, từ cách ăn, chỗ ở, cho đến việc xét lý lịch. Cách ăn của thế gian, cả nhà ăn chung một mâm tròn. Trong đó, chỉ có một tô canh, một chén nước mắm, và một đĩa cá. Nhà ở thế gian có “Tứ đại đồng đường”, nghĩa là trong một nhà có 4 thế hệ cùng sống chung, bao gồm ông bà, cha mẹ, con cái, và cháu; thì Thầy cho “Tứ Thánh đồng trì” Người Á Đông coi trọng tính di truyền “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa”. Do đó, khi chọn nhân viên, các cơ quan hay xét lý lịch.
Cái ao sen này có duyên với con ngay lần đầu tiên gặp gỡ, và đã theo con suốt quá trình tu học. Con đã hạ quyết tâm bằng mọi giá phải tìm hiểu cho ra, vì sao Thầy lại xây ao sen để thế bàn thờ? Trước đây mỗi khi nhớ chùa, con chỉ việc hình dung lại cái ao sen thôi. Bây giờ ao sen là động lực thúc đẩy con phải phấn đấu, để trở thành đóa hoa vượt lên khỏi bùn nhơ nước đọng, phơi sắc khoe hương, tắm ánh nắng mặt trời trí huệ, mới có thể bước chân vào cửa đạo, và không cô phụ cơm áo của đàn na tín thí.



