Dòng sông Dịch Thủy chẻ làm đôi.
Rượu nồng nước mắt còn vơi ấy,
Tiếng trúc còn vang mãi với đời.
Đây là bốn câu thơ của Kinh Kha từ biệt người bạn rượu Cao Tiệm Ly cùng thái tử Đan và đoàn tùy tùng của nước Yên tiễn Kinh Kha vào đất Tần, với sứ mệnh thích khách vua Tần (tức Tần Chính, sau này thống nhất xưng là Tần Thủy Hoàng Đế). Hình ảnh một Kinh Kha cùng Cao Tiệm Ly trên chiếu rượu lần cuối bên bờ sông Dịch Thủy (dòng sông là biên giới của nước Tần và Yên). Kinh Kha vỗ gươm hát, Cao Tiệm Ly thổi sáo (tiếng trúc). Sau khi uống hết vò rượu, Kinh Kha lên lưng ngựa, thái tử Đan mặc áo tang trắng quỳ dâng ly tiễn biệt. Kinh Kha uống cạn ly, vất chén ngọc xuống dòng sông rồi ngửa mặt lên trời thở dài, cái uất khí biến thành dãi cầu vồng vắt ngang sông ai thấy cũng làm lạ. Kinh Kha cảm xúc ngâm: “Tráng sĩ một lần đi không...”, rồi tìm cách đi vào đất Tần.
Hình ảnh một Kinh Kha với nhiệm vụ đi vào chỗ chết để tìm sự sinh tồn của nước Yên đã vẽ bức tranh diễm lệ bi tráng, một thích khách và nỗi u hoài khi biết mình sẽ vĩnh viễn từ giã cõi đời để đi vào cái chết. Cái dáng bất cần lúc uống xong chén rượu Thái tử Đan quỳ dâng, Kinh Kha vứt chén ngọc xuống sông rồi ngửa mặt lên trời thở dài u uất... người xưa đã viết, cái uất khí không còn được sống đã hóa thành cầu vồng (cường điệu hóa).
Hình ảnh trên trái ngược với hình ảnh ra đi tìm chân lý của Thái tử Tất Đạt Đa. Trong đêm im ắng, Thái tử nhìn Công chúa Da Du Đà La cùng quý tử La Hầu La đang say giấc nồng rồi quay người đi ra. Sự ra đi lặng lẽ không trống không kèn, không lời ly biệt, không rượu nồng nước mắt, không hoành tráng bi thương. Bởi, sự ra đi này là vĩ đại bất diệt, là khúc ca khải hoàn cứu nhân loại đang chìm đắm trong bể khổ sanh tử, khai phá con đường bất sanh bất tử mà nhân loại từ xưa tới nay chưa ai tìm ra.
Cái vĩ đại nhất của thiên nhiên là mỗi khi biển nổi sóng thần giận dữ giết chết hằng trăm ngàn người trong vài mươi phút - núi lửa tuôn trào - mặt đất trở mình rung rinh vùi bao thành phố - bầu trời nổi giận sấm chớp vang rền. Con người trở nên nhỏ bé quá đối với thiên nhiên! Nhưng cái vĩ đại ấy vẫn không thể sánh bằng Từ Bi của của Thái tử Tất Đạt Đa dùng gươm báu cắt tóc xuất gia để tìm hạnh phúc chân thực cho nhân loại. Hay lòng từ bi của Bồ tát Đề Bà bị đệ tử của ngoại đạo dùng đao đâm vào bụng - tuy bụng của Bồ tát bị hung thủ phá vỡ nhưng ngài vẫn không oán giận mà còn ai mẫn chỉ đường cho hung thủ trốn chạy trước khi bị các đệ tử chưa đắc pháp nhẫn vây bắt. Hay sự vĩ đại của Bồ tát Thích Quảng Đức dùng Lửa Từ Bi vị Pháp thiêu thân, lưu danh muôn thuở với Trái tim bất diệt.
Sự ra đi của Thái tử Tất Đạt Đa để tìm chân lý cứu chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi, hay sự ra đi các vị Bồ tát trong Phật giáo để xiển dương Phật Pháp đều thắm đượm Từ Bi vì chúng sanh, khác hẳn với sự ra đi của một thích khách Kinh Kha còn vương đầy uất khí, ngửa mặt lên trời thở dài để “hóa cầu vồng”.
Ba hình ảnh cùng cầm gươm của thái tử Tất Đạt Đa, của Bồ tát Văn Thù, và Kinh Kha khác nhau ý nghĩa cũng như tư thế. Ta hãy quan sát các hình ảnh hiện có mà người đời sau họa: thái tử Tất Đạt Đa đứng bên bờ sông hay ngồi trên phiến đá, tay trái nắm lọn tóc kéo về phía trước ngang tầm mắt, tay mặt cầm gươm ngang đầu để kết liễu mớ phiền não. Hình ảnh này tuy có phần giống như tượng của Bồ tát Văn Thù với tư thế ngồi ung dung, cầm gươm bằng tay phải, tay trái đặt lơi trên đầu con sư tử, nhưng hai vẻ đẹp này có khác nhau. Thái tử Tất Đạt Đa lúc ấy chưa xuất gia, tư thế đứng hay ngồi không ung dung như Bồ tát Văn Thù, mà là tư thế của một chiến sĩ đang chuẩn bị hành trang để lên đường tìm chân lý mà giặc chính là phiền não và vô minh trong con người. Cách cầm gươm của Thái tử Tất Đạt Đa cũng khác với cách cầm gươm của Bồ tát Văn Thù. Thái tử cầm gươm tư thế nằm ngang đưa từ phía trước ra sau, tượng trưng cho sự đoạn diệt quá khứ, quyết tâm đoạn trừ phiền não. Còn tư thế cầm gươm của Bồ tát Văn Thù thì thẳng đứng ngang tầm, như muốn bảo chúng ta hãy cầm lấy thanh gươm trí tuệ mà ngài đang trao cho. Cái hình ảnh đưa gươm cắt tóc dưới ánh trăng, bên cạnh dòng sông lững lờ, không có hào quang tỏa sáng, nó dường như lặng lẽ, âm thầm giữa trời đất, đầy vẻ cô liêu của một bến nước, sự tịch tĩnh của hư không huyền ảo vút cao. Đây là giây phút thiêng liêng nhất của nhân loại, là điểm xuất phát của hành trình đi tìm chân lý. Trái lại, tư thế cầm gươm của Kinh Kha lúc ngồi trên chiếu rượu cạnh dòng sông Dịch Thủy, ta có thể hình dung Kinh Kha đang ngồi, lưỡi gươm chúc xuống, Kinh Kha đang gõ vào thanh gươm để hát và làm nhịp cho Cao Tiệm Ly thổi sáo. Nhìn vào bức tranh ấy ta thấy sự huyên náo ngựa xe xướng ca sầu ly biệt.
Gương mặt của Thái tử trong các hình họa nói lên sự quyết tâm chú tâm vào việc đoạn lọn tóc, cái lằn ranh giữa phiền não và Bồ đề. Còn gương mặt của Bồ tát Văn Thù thì sáng ngời trí tuệ giác ngộ, nhưng không viên mãn như gương mặt của đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề lúc thành đạo.
Đối với con người, trong khoảng trăm năm của cuộc đời có nhiều mốc quan trọng, cái mốc đầu tiên là việc kết hôn để làm nhiệm vụ bảo tồn nòi giống, kế thừa tổ tiên. Ngày kết hôn là ngày trọng đại nên thời đại ngày nay người ta thường quay phim, chụp ảnh để lưu niệm về sau. Quan trọng nhất là việc trao nhẫn, đôi vòng vàng nho nhỏ ấy được nối bởi sợi dây vô hình trói buộc hai con người trần tục vào trách nhiệm, bổn phận, như đôi còng số 8 được nối bởi sợi dây xích vàng. Đối với xã hội Á đông lúc xưa không có tục đeo nhẫn chỉ có lạy trời, lạy ông bà tổ tiên và phu thê giao bái.
Đối với Công giáo cũng vậy, học viên sau khi được nhận vào học ở một viện Thần học thì được trở lại với đời sống bình thường trong ba năm để thử thách. Sau khi vượt qua được thử thách của cuộc đời thì trở lại để nhận chức Linh mục. Ngày thọ phong làm Linh mục đối với Công giáo là một ngày trọng đại, người được thọ phong được đeo một chiếc nhẫn tượng trưng cho sự kết hôn với Chúa, hay tượng trưng cho sự hiến dâng cuộc đời cho thiên Chúa.
Đối với Phật giáo, ngày thọ giới Tỳ Kheo là ngày quan trọng bậc nhất, ngày ấy các Giới tử sẽ được truyền giới, trở thành các vị Tỳ kheo, là bậc Đại trượng phu với trọng trách giải thoát tột cùng, nên lúc nào cũng phải thúc liễm thân tâm, hành trì giới luật, thượng cầu hạ hóa đạt Đạo Bồ đề.
Nói chung, tất cả các tôn giáo trên thế giới, hầu hết đều xây dựng nền móng trên sự đau khổ của con người, xây dựng cuộc sống hạnh phúc chân thật. Ước mơ được sống hạnh phúc là ước mơ lớn nhất của con người. Với Phật giáo, cái hạnh phúc tối thượng là liễu sanh đoạn tử mà chúng ta thường gọi là Vô ngã, Niết bàn, Tịch diệt, Chơn như v.v… tất cả đều có nhất vị. Vì vậy sự bắt đầu ra đi của chúng ta, những cư sĩ tại gia, những vị “Phật sẽ thành” đến bao giờ mới khởi đầu? Đây là một vấn đề trọng đại mà chúng ta phải có điểm đặt, vì có khởi đầu ra đi mới có điểm đến cuối cùng vậy. Còn lang thang như Cùng tử cũng như lang thang trong sinh tử vẫn còn khổ đau, đôi lúc có được hạnh phúc tầm thường, tục lụy nhưng đó chỉ là của nghiệp quả, vậy kíp kíp ra đi để tìm Chơn hạnh phúc.



