DỰ TÍNH HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Ngoài việc khuyên nhắc mấy chú lo học hành, tu niệm, xây dựng một tu sĩ khả dĩ trong tương lai, như xuống tóc, chuẩn nhận thọ giới, tôi đã họp bàn với các ban ngành trong chùa sẽ trích 1/5 tịnh tài của Phật tử cúng dường Tam bảo để trợ duyên mấy chú có điều kiện chi phí học hành.
Tôi nuôi mấy chú không ngoài mục đích: Phụng sự Phật Pháp, mà gần nhất là gìn giữ mọi công sức mồ hôi, tịnh tài của quý Phật tử xa gần đã phát tâm cộng lực xây dựng Tam bảo Kỳ Viên. Nếu không có người thừa kế sự nghiệp nầy, ai là người chăm sóc Phật sự, ai là người duy trì giềng mối ngôi Già lam Kỳ Viên. Cho nên, người xưa đã nhắc nhở chúng ta: “Thành lập nan, thủ thành bất dị” (xây dựng đã là khó mà giữ gìn không phải dễ). Vì vậy, nuôi dạy mấy chú không ngoài những điều trên.
Như chúng ta đã biết, xã hội đang phát triển, mở rộng thì kiến thức về thế học và Phật học của người đương thời cũng phải song hành. Được như vậy, khi mấy chú lớn lên là một Tăng sĩ, lãnh đạo Phật sự không bị yếu kém, không tự ty mặc cảm.
Thế hệ chư Tổ, quý Ôn, quý Thầy trước, đâu phải cần học đánh máy chữ, phải học vi tính, Anh văn ngoại ngữ, học toán đại, toán hình, toán lý hóa... vẫn xương minh Phật Pháp. Nhưng thế hệ mấy chú bây giờ thiếu những thứ ấy là không được, nghĩa là việc hành Đạo tương lai của mấy chú sẽ què quặt, công tác xã hội không chất lượng, không khớp hợp hoàn cảnh. Ví dụ: Một công tác rất đơn giản là: Cứu trợ thiên tai bão lụt mà người hướng dẫn cứu trợ là một vị Tăng, không biết nguyên tắc thực hành cứu trợ thì sẽ bị trở ngại, không ai giúp đỡ để vật cứu trợ đến mọi người được cứu trợ; không nhạy bén cách thức v.v... làm việc luộm thuộm, không đạt hiệu quả và phải có trình độ chia sẻ những đau thương đến mọi người bị nạn, qua lời nói người hướng dẫn (nếu là Tăng sĩ).
Chính công tác nầy rất thuyết phục mọi người có tình cảm đến với đạo Phật, hay họ mau hướng về Đạo. Như vậy, đòi hỏi người Tăng sĩ phải có một trình độ khả dĩ. Vì thế, thời đại này Tăng sĩ phải tu học, phải trau dồi kiến thức thế học và Phật học, trau dồi đạo hạnh mới đưa người vào Đạo tốt.
Phương tiện kiến thức đối với một vị tu sĩ trẻ trong thời đại khoa học rất cần. Một vị tu sĩ trẻ thuyết trình một đề tài Phật pháp cho học sinh, sinh viên như vừa rồi chùa Kỳ Viên thuyết trình đề tài Đạo Pháp và Dân tộc (do yêu cầu của Ban điều hành Trường Đại học Nha Trang) đã gây bao nhiêu tình cảm thiêng liêng đối với Đạo, tiếp sức mạnh cho công tác giáo hóa, đặc biệt lớp tuổi trẻ được biết về đạo Phật khoa học, rất thực tế, rất tình người cao thượng, loại bỏ suy nghĩ sai lệch về đạo Phật. Người thuyết trình nêu lên câu: Đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Câu này được cụ thể hóa cho những sinh viên đang có mặt: “Như các anh chị hiện tại là sinh viên, ngày mai sẽ là thầy, cô giáo, chứ đâu cứ mãi mãi là sinh viên”. Ở buổi thuyết giảng hôm đó tại chùa Kỳ Viên, tất cả đều cảm nhận, cùng nói: “Đạo Phật là Đạo rất bình đẳng, Đạo Phật rất khoa học”. Từ việc đơn giản, chúng ta suy ra mọi chân trời cao rộng của đạo Phật thì phải có những tâm hồn cao rộng, tiếp thu kiến thức giữa Đạo và Đời, áp dụng vào cuộc sống bằng lời Phật dạy thì mình sẽ là Phật tương lai.
Chúng ta đừng đóng khung đạo Phật “Kính nhi viễn chi” thì tội cho Đức Phật. Tâm nguyện của Ngài muốn đem sự chứng ngộ của mình truyền lại chúng sanh, mong chúng sanh giác ngộ như Ngài.
Có nhiều lúc, tôi tự nhủ: Mấy chú cả ngày lo đi học ở trường, làm sao tu niệm, tụng kinh, bái sám. Từ ấy, tôi phải có cách giảng giải cho mấy chú: Mấy chú đi học cũng như tụng kinh, nghĩa là mấy chú đi học phải tôn trọng giờ giấc, bài phải thuộc, làm bài tại lớp phải tốt, phải lễ phép quý thầy cô, phải thân thiện bạn học, giúp đỡ bạn khi cần thiết, chia sẻ mọi khó khăn, phải lễ phép người lớn tuổi, phải nhã nhặn lời nói, vì:
“Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Đây là cơ hội để mấy chú thể hiện là một người xuất gia, một ông Điệu có hạnh, vẫn có khuôn phép cảm hóa dẫn người vào Đạo. Đó chính là những thời buổi mấy chú tụng kinh vậy!
Thời đại bây giờ, thế hệ hôm nay, nếu ai đó thiếu học, không lo học là một tai nạn cho cuộc đời, cho tương lai một đời người. Hiện tại, mấy chú được phép cha mẹ cho vào chùa, được đi học là một ân huệ lớn, mấy chú nên suy nghĩ mà cố gắng học. Dùng cơm của đàn na tín thí mà không lo tu học, chúng ta có tội. Ngày xưa chư Tổ đã chủ trương “Nhứt nhựt bất tác, nhứt nhựt bất thực” (một ngày không làm là một ngày không ăn), mấy chú đi học nghiêm túc là mấy chú đã làm việc rồi đó! Học là một nghĩa cử đẹp, mới trang nghiêm cuộc đời mỗi lúc một tốt lên.
Kính thưa quý vị đại diện và Phật tử chùa Kỳ Viên.
Tôi và quý vị đang đảm nhận một Phật sự nặng nề ngôi chùa nầy. Như tôi đã từng xác định rõ: Ngôi chùa nầy là một Từ đường tín ngưỡng chung của mọi người con Phật, nên ai cũng có trách nhiệm bảo quản, duy trì Từ đường tín ngưỡng Kỳ Viên phải tuân thủ 2 việc chính:
1/ Về tín ngưỡng: Nuôi dưỡng, đào tạo Tăng chúng và Phật tử tu học đúng chánh pháp, thực hiện đúng mọi chủ trương của Giáo hội và pháp luật của Nhà nước, tránh mọi cạm bẩy mê tín dị đoan, không phù hợp giáo lý Phật Đà và nhận định rõ nhịp đà phát triển của xã hội để xây dựng đức tin người con Phật vững bền, trong sáng. Nếu chúng ta không thể hiện đúng với nguyên tắc nầy, Thầy trò chúng ta có tội với Tam Bảo, với các vị tiền bối hữu công, với công sức, tịnh tài của đàn na tín chủ, phản lại tinh thần “Trụ pháp vương gia”. Đức tin chơn chánh là tiềm lực vững chãi cho mọi phát triển, hưng thịnh đạo đức, văn hóa của ngôi chùa.
Qua bao thế hệ, đức tin một số người con Phật còn quá lỏng lẻo hời hợt, lệch lạc, chịu nhiều áp chế của thần quyền, làm xao động nếp sống tâm linh của người Phật tử. Hình thức mê tín dị đoan còn dẫy đầy nơi xã hội, lấn áp ngôi nhà đạo lý chánh chơn, là lực cản phát triển nhiều mặt cho xã hội, Đạo Pháp, cho lòng người ỷ lại. Đôi lúc, lòng tin của người Phật tử và một số người trong dân gian, xem đức Phật là người đỡ đầu may rủi cho sự nghiệp vật chất của họ, không nhận thức giá trị cao cả mà đạo Phật đến với con người. Chúng ta nên xác định rõ, cuộc sống và nếp sống con người tùy thuộc hành động con người. Giáo lý đức Phật hay bản thân đức Phật là một trợ lực hữu hiệu, nếu con người biết tin đúng, ứng dụng thích hợp vào sự nghiệp (chánh mạng, chánh nghiệp, trong Bát chánh đạo) thì cuộc sống con người sẽ hạnh phúc trọn vẹn. Như áp dụng tinh thần: Không trộm cắp, chánh mạng chánh nghiệp thì không cần khẩn cầu thần linh nào xen vào hạnh phúc con người. Hạnh phúc của con người do hành động con người tạo nên. Không ai có quyền năng thưởng phạt. Người biết chữ hay không biết chữ mà nhân tố quyết định là mình. Sự nghiệp và hạnh phúc con người cũng vậy. Do đó, Thầy trò chúng ta đang có một trách nhiệm lớn với tập thể ngôi chùa nầy; nghĩa là xây dựng đức tin chân chánh, hiểu biết chân chánh và thực hành chân chánh.
Phật giáo trong thời đại xã hội đổi mới, nên vai trò của chúng ta khá nặng nề. Và một điều mà chúng ta nên quan tâm, sự chuyển đổi cơ cấu của Giáo hội còn chậm trễ, nên chúng ta phải nhạy bén trong sinh hoạt thì ngôi chùa chúng ta mới thoát nạn xâm thực tín điều về nhiều mặt.
Bài viết trong Nguyệt san Giác Ngộ, số 153 tháng 12 năm 2008 đã nêu: “Sự chuyển đổi cơ chế Giáo hội diễn ra rất chậm, tùy thuộc vào sự thúc đẩy tình hình... và đơn vị cơ sở...”. Từ ấy, chúng ta nên áp dụng tinh thần “Tùy duyên” của đạo Phật mà uyển chuyển trong sinh hoạt ngôi chùa cho có sinh khí tu học, không lệch Chánh pháp.
2/ Tổ chức nội bộ: Phải có những nguyên tắc tổ chức căn cứ chủ trương của Giáo hội và pháp luật Nhà nước. Tùy theo hoàn cảnh của ngôi chùa mà hình thành một tổ chức để xác định trách nhiệm: Việc nào của người xuất gia, việc nào của giới tại gia. Được như vậy, sức mạnh tập thể của ngôi chùa càng hưng thịnh, phát triển. Không tùy tiện tư tưởng cá nhân áp đặt trong tập thể. Tinh thần Khế lý và Khế cơ là mẫu mực cho một tổ chức; hay áp dụng Thanh Quy Bách Trượng vào tổ chức sẽ đem lại kết quả tốt.
Thanh Quy Bách Trượng là cương lĩnh sinh hoạt chư Tăng và áp dụng trong một ngôi chùa, nơi Tu viện, Thiền viện (Thanh Quy Bách Trượng của Ngài Bách Trượng - Hoài Hải - 420-784 đời Đường) (xin tự tham khảo).
Như vậy, trong tổ chức chùa chúng ta đã có Nội quy (soạn và nhất trí ban hành ngày 22./7/1992). Chúng ta nên thực hiện Nội quy nầy trong mọi điều hành tổ chức của chùa chúng ta.
Ghi chú: Mỗi ban ngành đã có 1 bản nội quy cũ.
(còn tiếp)



