Chua thay toi

Tác giả: Thích Nữ Thông Nhàn

 

 

Chùa Thầy Tôi tọa lạc ở số 75 đường Trần Phú, khóm Tây Hải, phường Vĩnh Nguyên, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tuy chùa ở cạnh biển nhưng lại có biệt danh là Linh Sơn. Địa chỉ chùa đặt tại đường chính Trần Phú, song cổng chính của chùa lại tọa lạc ở hẻm 83 đường Trần Phú. Trước đây khi đường chưa mở rộng, cổng phụ của chùa rất đơn sơ như cổng nhà dân. Sau khi đường phóng lớn, cổng phụ được xây lại khá cao ráo, mang hình dáng cổng chùa hẳn hoi. Tuy không phải tam môn như cổng chính, nhưng có đến 6 hoa sen trắng. Hai đóa to nhất được đặt trên hai trụ đá hình tứ giác mỗi mặt rộng 9 tấc cao 5 mét, hai trụ đá nhỏ đứng sát hai trụ lớn mỗi mặt rộng 7 tấc cao 4mét, ngự trị trên đó là 2 đóa hoa trung bình, 2 hoa sen nhỏ đặt trên tường rào. Bảng chùa nền vàng chữ xanh, phía trên chính giữa bảng có bàn tay nâng bánh xe pháp luân. Lạ thật, cổng chùa nằm cạnh cổng Lăng, phía trước cổng chùa có 2 cây phượng ở 2 bên, trước cổng Lăng cũng như vậy. Nhưng khách thập phương qua lại đường Trần Phú, họ chỉ thấy cổng Lăng mà không thấy cổng Chùa, ngoại trừ, những người quen mới biết nơi đây đang hiện diện một ngôi chùa khá lớn.

Ngôi chùa này trước đây là một am tranh nhỏ, có tên là “ Linh Sơn Thánh Mẫu”, do một nữ cư sĩ thành lập, để ngư dân quanh vùng thắp hương khấn vái. Về sau vì muốn theo gia đình về Sài Gòn, nên cúng dường lại cho Thầy. Thầy bảo:  đây là nơi Phật bổ xứ cho mình. Qua lời Thầy kể, sau 15 năm học đạo với Sư Ông chùa Liên Tôn ở Bình Định, năm 1948, Thầy được bổn đạo ở Phan Thiết thỉnh về trụ trì chùa…Sau khi từ giả Tôn Sư, Thầy khăn gói lên đường, chưa ra khỏi Bình Định, thầy đã nhận được 2 môn đồ. Nay là Ni Trưởng chùa Tịnh Đức và cố Ni Sư Thích Nữ Thông Ấn. Ba thầy trò đi bằng đường biển vào Phan Thiết, giữa đường tàu gặp sự cố nên ghé cảng Nha Trang sửa chữa vài ngày, Thầy trò vừa lên cảng dự định đi chợ Đầm mua quà biếu cho người thân, thì gặp ngay cô Mười Khánh mời ba Thầy trò về am nghỉ chân uống nước. Sau đó, Cô thành kính cúng dường am cho Thầy, thỉnh Thầy ở lại Nha Trang tu học. Từ chối mấy phen không được, Thầy đành dừng chân và định cư tại đây.

Sáu năm sau, năm 1954, Thầy mới đủ kinh phí xây chùa, nhưng rất đơn sơ, không có nhà chúng. Nghe quý sư Tỉ kể lại, chúng phải ngủ ở nhà thờ linh sợ ơi là sợ. Xây chùa lần này Thầy đổi hướng chùa từ Đông Bắc sang hướng Đông Nam. Thảo am trước đây mặt nhìn ra biển lưng hướng ra đường Trần Phú, lần này mặt nhìn về lầu Bảo Đại, lưng hướng về Lăng. 14 năm sau, năm 1968, chẳng những Thầy trùng tu chùa tương đối hoàn chỉnh mà còn thành lập trường học làm kinh tế nữa chứ. Sau đây là cách Thầy thiết kế chùa:

Diện tích chùa  rộng chưa đến 700 mét vuông, ba mặt giáp đường đi, mặt còn lại giáp Lăng cũng là mặt tương đối ngay ngắn nhất, Thầy dùng làm lưng chùa. Ranh giới hướng Đông Nam lồi lõm nhất, hai bên đều có nhà dân, đoạn giữa dài khoảng 18 mét, thầy xây cổng chính và sân trước của chùa. Sân trước khá rộng phần lát gạch chiếm khoảng 100 mét vuông, 2 bên dùng để trồng cây lớn như cam - chuối - bưởi - vú sữa - nhãn v.v... diện tích khoảng 80 mét vuông. Ngôi đại hùng Bảo Điện diện tích rộng khoảng 175 mét vuông, xây làm 2 tầng 1 trệt 1 lầu. Tầng trệt chia làm 4 phần, phần gần sân trước làm phòng tiếp khách, kế đến là phòng ăn quá đường trong ba tháng hạ, giữa phòng khách và phòng ăn quá đường là bàn thờ Đức  Bổn Sư Thích Ca, còn gọi là bàn giám trai. Một bức vách ngăn nhà quá đường, sau vách là  1 cái đơn dành cho Thị Giả, cuối cùng là phòng Thầy. Phía sau phòng Thầy có 1 lối đi rộng khoảng 1 mét, diện tích còn lại rộng 35 mét vuông làm sân sau. Tầng Lầu chia làm 2 phần, chánh điện chiếm 2/3 diện tích, 1/3 diện tích còn lại làm hậu Tổ.

 Lấy mặt giáp Lăng làm chuẩn thì chánh điện ở vị trí gần như trung tâm của miếng đất, có chiều dài tương đối dài nhất so với những phần còn lại. Từ vách chùa ra hướng biển, Thầy chia làm bốn phần. Kế nhà quá đường là ngôi nhà trống trần nhà đúc, nối liền từ nửa chánh điện đến hết hậu Tổ, tạo thành sân thượng rộng khoảng 30 mét vuông. Kế đến là dãy nhà trệt gồm có 3 phòng dành cho chúng nhỏ ở, một lối đi rộng khoảng 1,5 mét, cuối đường đi là 1 cái giếng, phần còn lại là một dãy nhà trệt sát rào mặt nhìn vào hông chùa, vừa thế hàng rào vừa làm nhà bếp của chúng, nhà kho, nhà vệ sinh v.v… sân trước nhà chúng rộng khoảng 35 mét vuông có cây Bồ đề, tán phủ khắp sân còn gọi là sân bồ đề. Từ sân sau phòng Thầy ra hết ranh Đông Bắc là một dãy nhà chúng 2 tầng lưng giáp Lăng, mặt nhìn về hướng Đông Nam cùng hướng chùa. Tầng trệt có 3 phòng, phòng cạnh sân sau là nhà để xe, dưới cầu thang là nhà xí của Thầy, phòng giữa là nhà ăn của chúng, cuối cùng là nhà bếp của Thầy. Tầng lầu nền lót ván là phòng ngủ của chúng lớn, đầu cầu thang là 1 nhà xí chia nhà chúng thành 2 phần, phần nhỏ để được 2 đơn, phần lớn  kê 8 đơn. Từ vách phải của chánh điện ra đường Trần Phú, diện tích rộng khoảng 180 mét vuông.Trường học 2 tầng kết hợp với chánh điện tạo thành hình chữ “T”, lưng dựa nhà dân, mặt nhìn về Lăng. Vách trường cách vách Chùa gần 2 mét, làm lối đi cho chư Tăng và chư Ni.  Giữa  sân trường và sân sau phòng Thầy có bức tường và một cổng nhỏ, cửa bằng tôn làm lối đi cho Ni chúng. Đây là cách Thầy quản lý chúng hữu hiệu nhất, vì mọi người muốn đi đâu đều phải qua cửa sổ phòng Thầy. Đặc biệt nhất là cửa tôn dù cố gắng  nhẹ nhàng hết sức vẫn gây ra tiếng động. Do vậy, ai đi lúc mấy giờ về lúc mấy giờ Thầy đều biết hết.

Cách Thầy xây chùa làm mọi người  thắc mắc: Sao chùa gần đường lớn mà mặt chùa không nhìn ra đường lớn, lại nhìn vào trong hẻm chứ ? Thầy chỉ đáp ngắn gọn : hướng này dễ nuôi chúng. Thật vậy, chùa có lúc thịnh lúc suy, cũng vô thường như Quốc Gia, thời tiết, nhưng chưa bao giờ ở mức dưới 10 người. Điều làm tôi thắc mắc: không phải riêng hướng chùa mà ngay cả hai dãy nhà chúng đều nhìn về hướng Đông Nam. Vậy hướng này có gì đặc biệt mà Thầy thích lắm thế?

 Giải thích theo ngôn ngữ, hướng Đông là sự bắt đầu, là tuệ giác. Sau đêm đen bình minh ló dạng, là sự  bắt đầu của một ngày . Nói cách khác, vô minh vắng bóng thì tuệ giác xuất hiện. Hướng Nam là vô, là vào như” vào Nam ra Bắc”. Vậy hướng Đông Nam là bắt đầu vô, nhưng ai vô mới được chứ ? Dĩ nhiên, chùa chỉ có người tu vô, mà người mới xuất gia “tâm giác” mạnh lắm “ nhất niên Phật tại tiền “.

Dưới nhãn quan của nhà văn hóa học, xây nhà hướng Đông Nam là cách xây nhà thông minh nhất , kế thừa trí tuệ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Vừa đón nhận ngọn gió nồm mát mẻ vào mùa hè vừa tránh được giá rét của ngọn gió bấc vào mùa đông. Như vậy là sống hợp với thiên nhiên, tiết kiệm được tiền bạc. Nhất là xây thêm cái giếng ở bên trái phía trước căn nhà thì vào mùa hè tha hồ thưởng thức máy lạnh thiên nhiên. Thế là, những thành viên sống trong nhà sẽ ít đau ốm, “ không đau thì giàu biết mấy”. Ai đã từng sống ở chùa Linh Sơn suốt cả thập niên 80 sẽ thấm thía vấn đề này. Giai đoạn này gọi là giai đoạn “ củi quế gạo châu”, chỉ lo cái ăn thôi cũng đủ mệt rồi, đừng nói đến việc xài quạt máy. Tất cả những dụng cụ bằng điện chỉ dùng được đèn điện, song xài rất hạn chế. Mỗi đêm sau giờ tụng kinh chỉ xài 2 bóng đèn, 1 bóng ở phòng chúng lớn và 1 bóng ở nhà khách. Song đến 9 giờ tối thì tắt hết. Ai muốn thức khuya phải xài đèn dầu hôi. Nhà khách vừa là nơi nghỉ trưa vừa là nơi qua đêm của chúng nhỏ suốt cả mùa hè, vì hướng chùa mà nhà khách mát như có máy lạnh.

 Theo phong thủy, đại kỵ sau nhà có đường đi, hay là sông suối. Lưng chùa xoay về lăng. Lăng là nơi thờ cá voi thuộc động vật. Đệ tử  quy y Phật không được quy y trời Thần Quỷ Vật. Vậy lưng chùa xoay về Lăng là hợp lý nhất. Mặt nhìn về lầu Bảo Đại là một ngọn đồi. Theo cách nhìn nhà Phật mà nói, đồi núi là biểu tượng cho định lực. Dĩ nhiên, mục đích chính người xuất gia đạt đến là trí tuệ, song đối với phàm Tăng căn cơ chậm lụt, đặc biệt là  bên Ni, thì đạt đến định lực cũng là một quá trình tinh tấn liên tục.

Vậy nhìn ở gốc độ nào, hướng Đông Nam vẫn là hướng tốt nhất đối với chùa Linh Sơn. Chẳng những hợp với địa hình Việt Nam, hợp với phong Thủy mà còn hợp với chánh pháp đạo Phật. Đặc biệt là Thầy đã kết hợp cả hai nền văn hóa Đông Tây trong việc xây chùa. Ở phương Tây, nơi làm ăn và nơi ở riêng biệt không giống như Việt Nam, nhà ở vừa là nơi buôn bán hoặc vừa là nơi sản xuất. Cách Thầy xây trường ở mặt tiền làm kinh tế hợp với văn hóa phương tây. Cách thiết kế chùa vừa có sân trước vừa có sân sau, gọi là có tiền có hậu. Theo cách nghĩ của người Việt Nam, người sống trong căn nhà như vậy, tâm hồn rất nhân hậu. Sân trước phần lát gạch đặt đầy những chậu hoa,1hồ cá phía trên có hòn non bộ đặt chính giữa  phần đầu sân đối diện phòng khách, trung tâm sân là một hồ sen. Cách thiết kế này phù hợp với văn hóa Á Đông. Qua cách xây Chùa và thiết kế trường, Thầy quả là người Á Đông chính cống nhưng không cố chấp, biết thừa kế những nền văn minh nhân loại mà vẫn giữ nét riêng của Dân Tộc mình.

Năm 2001, Thầy trùng tu Ni Xá, chỉ chừa lại ngôi đại hùng Bảo Điện và trường học. Phòng Thầy được nới rộng hết cả phần sân sau, nên rộng rãi hơn nhiều, tuy nhiên phần quản lý chúng không được chặt chẽ như trước. Hình dáng Ni Xá bây giờ hao hao giống nhà Nhật Bản là một dãy lầu ba tầng, lưng xoay ra biển, mặt nhìn vào hông chùa, tức là nhìn ra đường Trần Phú. Tầng trệt và tầng 1 từ ranh giáp Lăng cho đến phần giáp nhà dân dành cho Ni Chúng, tầng 2 dành cho khách thập phương Tăng. Góc Đông Nam, ở bên trái từ trong Chùa nhìn ra, phần bị nhà dân che khuất, dành để làm nhà bếp và nhà xí. Chùa bây giờ phần bên trong tuy khang trang, sạch sẽ, và hiện đại hơn nhiều; nhưng thiếu bóng mát của những cây cổ thụ làm cho ngôi Chùa mất đi vẻ tĩnh mịch sâu lắng. Ngày xưa Chùa tuy không đẹp bằng bây giờ, nhưng khách thập phương đặt chân vào chùa dù cổng chính hay cổng phụ đều không thấy được bếp ăn của chùa.

Theo ngu ý của tôi, sở dĩ trước đây Thầy xây trường học mặt nhìn về hướng Lăng, vì đường Trần Phú ngày xưa rất hẹp, phần đất chùa dài hơn lăng từ 3 đến 4 mét. Thầy xây cổng phụ nằm trên đường ranh giáp lăng nối dài, nghĩa là đối diện trường học, nên khách thập phương qua lại đường Trần Phú thì  thấy cổng Chùa ngay. Địa hình bây giờ khác trước, nếu muốn mọi người biết nơi đây đang hiện diện 1 ngôi Chùa, thì trường học phải phá đi xây lại, lưng xoay về lăng, mặt cùng hướng với chánh điện.

Tóm lại, Chùa là nơi để Tăng Chúng tu học, đồng thời cũng là nơi để cho khách thập phương gieo hạt giống Bồ Đề. Nếu một ngôi chùa nằm ở thành phố biển, đặc biệt là thành phố du lịch, mà khách thập phương không biết đến, quả là một thiệt thòi lớn cho Bổn Tự cũng như Bá Tánh. Dẫu biết rằng một ngôi chùa muốn hưng thạnh thì những thành viên trong ngôi chùa đó phải thực tu thực học. Song để đào tạo nhân tài cho phật pháp, nền kinh tế chùa chiếm vị trí khá quan trọng. Trước đây, cách xây Chùa của Thầy nhằm giải quyết nền kinh tế tự lập, còn bây giờ với thời đại truyền thông và du lịch tại sao chúng ta không có cách nghĩ khác hơn chứ?

 

 

 

« Quay lại

Nội dung Khác

  • Lời giới thiệu
  • Những chặng đường (tt)
  • Cảm niệm về ngày đại lễ Phật đản PL:2553
  • Những nguyên nhân khiến người đời tôn kính Đức Phật
  • Tham luận:hoằng pháp với lễ hội Phật Đản
  • Đức Phật ra đời nhìn từ khía cạnh tôn giáo
  • Đạo Phật ánh sáng của giác ngộ
  • Nhất thiết khổ ách
  • Không
  • Ý nghĩa sa môn
  • Một vài cảm nghĩ về "Quan điểm của Phật Giáo về Thượng Đế
  • Thoáng suy tư
  • Nỗi niền của điệu
  • Cho và Nhận
  • Chí nguyện của người xuất gia
  • Niềm vui của người xuất gia
  • Phật Đản ngày hạnh phúc nhất cho nhân loại
  • Phật Giáo trong xã hội hiện đại
  • Loài hoa quý
  • Trả thịt
  • Chuyển nghiệp
  • Đôi giày bằng vàng
  • Hạnh phúc thay Đức Phật đản sanh
  • Khi nào thấy
  • Chuông Chùa Kỳ Viên
  • Tượng đài Quán Âm
  • Cầu an
  • Trước thử thách
  • Hạnh ngộ Kỳ Viên
  • Chọn một hướng đi
  • Trở giấc đêm khuya
  • Buông
  • Bồ đề tâm
  • Đâu chỉ là quán nước
  • Lời nguyện
  • Hộp thư
  • Ngày đầu tiên đến chùa
  • Powered by QuyetTri
    Copyright 2009, KyVienTrungNghia Pagode
    132 Sinh Trung, Nha Trang, Khanh Hoa, VietNam.
    email:huephap@gmail.com - Tel:(+84)58.3827197;3500252