LTS: Khóa Hội thảo - Bồi dưỡng kiến thức và hoạt động Văn Hóa Phật giáo lần đầu tiên tổ chức tại Nha Trang đã bước qua ngày thứ III, các đề tài liên quan văn hoá Phật giáo được các đại biểu thảo luận khá sôi nổi. Đặc biệt là vấn đề, làm sao bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Phật giáo. Bản tin Tuần văn hóa Phật giáo đã gặp gỡ và ghi nhận những ý kiến của các vị Đại biểu tham dự Hội thảo xung quanh vấn đề này.
KTS. NGUYỄN HỮU THÁI
* Ý thức Bảo tồn và Phát huy Di sản VHPG: Trong nguồn sống văn hóa Phật giáo Việt
Khái niệm di tích lịch sử phải bao hàm cả khung cảnh có chứng tích của một nền văn minh riêng, và một sự kiện lịch sử. Nó bao hàm cả công trình lớn và khiêm tốn có giá trị văn hóa. Bảo tồn và trùng tu di tích phải cần đến nghiên cứu và bảo vệ mang tính khoa học. Bảo tồn và trùng tu di tích là nhằm mục đích giữ gìn bảo vệ các di tích. Điều chủ yếu đối với việc bảo tồn di tích là làm cho di tích đó được duy trì lâu bền. Bảo tồn di tích luôn được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách sử dụng những di tích đó vào một mục đích hữu ích cho xã hội, song không được biến đổi bố cục hoặc trang trí của công trình. Bảo tồn di tích bao hàm bảo tồn cả khung cảnh nằm trong phạm vi liên quan tới di tích. Một di tích không thể tách rời khỏi lịch sử và khung cảnh mà nó toạ lạc. Việc di chuyển di tích là không được phép, trừ phi vì lý do xác thực vì lợi ích hết sức quan trọng nào đó của quốc gia. Tiến trình trùng tu là một thao tác có tính chuyên môn cao. Ở đâu mà kĩ thuật truyền thống tỏ ra bất cập thì để đảm bảo việc gia cố di tích ở chỗ đó, có thể dùng mọi kỹ thuật hiện đại về bảo tồn và xây dựng. Mặt khác, những phần đóng góp có giá trị ở mọi thời kỳ vào việc xây dựng di tích cần phải được tôn trọng. Khi một công trình xây dựng bao gồm nhiều khoảnh chồng lên nhau của những thời kỳ khác nhau, thì việc bóc gỡ để làm lộ ra một khoảnh bên dưới phải được biện minh xác đáng, phải tính toán đầy đủ để minh xác cho việc bóc gỡ. Đó là quyết định của cả một cơ quan khoa học. Những bộ phận dùng để thay thế vào những chỗ trống phải hài hòa với tổng thể, đồng thời phải phân biệt được với phần nguyên gốc. Các phần xây đắp thêm chỉ được chấp nhận ở mức độ chúng vẫn tôn trọng các bộ phận độc đáo khung cảnh truyền thống, tính cân đối về bố cục của tòa kiến trúc.
Đạo Phật vào nước ta và định hình rất sớm ở đồng bằng sông Hồng. Nếp chùa Việt truyền thống cơ bản vẫn là một ngôi nhà gỗ, được chăm chút hơn với hệ vì kèo chồng giường, giá chiên đỡ giàn mái lợp ngói mũi hài lớn và nặng, đầu đao cong vút. Nhưng nếp chùa vẫn khiêm tốn, ẩn mình trong một vùng cây cảnh, sông nước và hòa tan vào lòng đời, lòng người. Nếp chùa đã trở thành không gian tâm linh dân tộc, cấu thành nên nét làng xóm Việt. Cảnh chùa, dáng tháp, ao sen, tiếng mõ tiếng chuông... luôn nằm trong tâm thức của bao thế hệ. Ở Huế, những ngôi chùa vẫn đơn giản như một ngôi nhà rường dân gian. Chánh điện nhẹ nhàng, sáng sủa với cắt mái 2 tầng, gờ mái thẳng, đầu đao giản đơn, thanh thoát hơn so với ngôi chùa phía Bắc. Ngoài chính điện, còn có sân trong với thiền đường, Tăng xá bao quanh, đàng sau là vườn lớn trồng hoa màu. Cảnh quan trùng điệp núi đồi cỏ cây, bao la biển cả suốt dải đất miền Trung phải chăng đã là phông nền tuyệt vời cho nếp chùa Phật. Ở Nam bộ nếp chùa phải phù hợp với khí hậu phía Nam, cần thông thoáng, che chắn được nắng mưa với hàng ba rộng rãi, mái lợp ngói âm dương thô mộc. Bố cục ngôi chùa cũng giản lược, ít khi xây cửa tam quan, tháp không mấy lớn, mà chỉ còn lại ngôi chính điện với sân vườn trước sau, nhà Tăng chúng. Ngôi chùa ở trong lòng phố thị đất chật người đông không còn cảnh quan bề thế, có khi phải thu nhỏ lại chỉ còn là một căn phố.
Ngôi chùa Việt đã qua hàng trăm năm biến thiên, thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, chạy suốt theo chiều dài đất nước, lần theo bước chân vào đất phương
GS.TS. LÝ KIM HOA, Nhà Dịch thuật Phật giáo:
Trước nhất phải xác định nội dung Giáo dục và sự truyền trao trí tuệ của Phật giáo. Nội dung Giáo dục Phật giáo rất rộng, như giáo dục quần chúng, giáo dục Tăng ni, giáo dục tín đồ Pật tử…Trước kia, Phật giáo có hệ thống cơ sở giáo dục như trường Bồ đề, Viện Đại học Vạn Hạnh, chỉ mang tính truyền trao kiến thức. Giờ đây, Giáo dục Phật giáo thu vào ba học viện của ba miền, chú tâm vào nội điển, chuyên sâu hơn trước kia. Tuy nhiên, việc giáo dục của PG vẫn còn đang trên đà dọ dẫm. Sau ngày Việt
Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Văn hóa vật thể như pháp khí, kinh sách, tranh tượng tự viện… đến nay PGVN vẫn chưa có một ban chuyên môn tổng kết đưa vào danh mục. Về văn hóa Phi vật thể như kinh tụng, âm nhạc Phật giáo chưa được Việt hóa, chưa có viện Hàn lâm thẩm định các kinh bản được dịch theo truyền thống và theo tân dịch. Những văn tự dịch theo truyền thống trước ngài Huyền Trang pháp sư cần duy trì nguyên bản, từ ngài Huyền Trang dịch về sau gọi là tân dịch, cũng cần hệ thống hóa và được kiểm định giá trị đích thực. Hiện nay có hai trào lưu phiên dịch, tự phát và có tổ chức, cả hai đều chưa viện Hàn lâm xác định tính chuyên nghiệp và giá trị của văn bản…
Nhà nghiên cứu TRẦN ĐÌNH SƠN, Ủy viên Ban Văn hóa TƯGH:
Trong xã hội phát triển, sự đa dạng cổng thông tin có được trên toàn cầu ảnh hưởng khá nhiều mặt đến với đời sống con người hiện nay. Không những chỉ tác động đến đời sống thiếu thốn vật chất mà cả đến hạnh phúc tinh thần. Đặc biệt, những di sản, truyền thống nói lên văn hóa và văn minh của dân tộc cũng dễ bị xói mòn, nếu chúng ta không có ý thức gìn giữ, phát huy và bảo quản. Văn hóa Phật giáo ảnh hưởng đến văn hóa đời sống con người và xã hội Việt
Trong việc bảo tồn những di sản vật thể Phật giáo, Giáo hội cần có một chính sách hướng dẫn rộng rãi đến với các tự viện, cá nhân, nơi có những cổ vật, bia ký để hình thành một cổng thông tin chung, nhằm hướng đến một sự bảo quản, nếu không muốn thất thoát. Chúng ta không có những thông tin chung như thế, thì sẽ không ai biết, việc làm đó chỉ mới dừng lại ở việc bảo tồn, chứ nó không mang ý nghĩa phát triển. Cổng thông tin chung ở đây là chúng ta có một sự hướng dẫn thống kê, dĩ nhiên, đừng hiểu rằng di sản đó sẽ bị mất đi khi thống kê như thế. Luật di sản cũng quy định rất rõ, mọi người có quyền sở hữu những gì mình đang có, mặc dầu đó là di sản mang tính quốc gia, hay tự viện, môn phái. Thống kê để có được thông tin nguồn gốc và nếu cần thì được bảo vệ. Cổ vật có nhiều loại, cổ vật quý hiếm, cổ vật thường. Quý hiếm là cổ vật đó không có nhiều, hoặc không có cái thứ hai. Mặc dầu, cổ vật đó thuộc cổ vật quốc gia, nhưng hiện nay chùa đang sở hữu thì vẫn được quyền sở hữu, được ghi rất rõ trong luật Di sản. Công việc thống kê để biết sự tồn tại của cổ vật đó, nếu giả sử cổ vật đó được chủ sở hữu di chuyển thì người làm công tác quản lý có thể biết được cổ vật đó đang ở đâu. Nếu có bán đi, cổ vật đó thuộc cổ vật quốc gia, thì quốc gia là người có quyền ưu tiên mua lại cổ vật đó, theo đúng tinh thần thỏa thuận hợp lý.
Việc bảo tồn văn hóa Phật giáo vật thể, GHPGVN và Ban văn hóa TW chưa đủ điều kiện để thành lập một trung tâm, hoặc một viện Bảo tàng cho Phật giáo Việt Nam, để bảo quản chung những di sản quý hiếm. Hiện nay, GH chỉ có một vài trung tâm Phật giáo trên toàn quốc. Việc Ban văn hóa TW có thể làm được ở đây chỉ là tham mưu, cố vấn để các tự viện và cá nhân xác định giá trị của di sản đó, cách bảo tồn và đưa thông tin của di sản đó đến rộng rãi quần chúng. Di sản quý hiếm mà không được nhiều người biết đến thì đó cũng là sự thiệt thòi và thiếu giá trị.
Ý niệm mang những di sản quý hiếm của các tự viện, cá nhân vào tập trung ở một trung tâm, thì trước hết Giáo hội địa phương đó phải xây dựng được một trung tâm văn hóa, để tự viện và cá nhân họ có thể tin tưởng nơi họ hiến tặng hoặc gửi những bảo vật đó. Ngược lại, xây dựng được trung tâm nhưng tự viện, cá nhân không gửi vào thì đó cũng là vấn đề cần nghĩ. Việc trước mắt Giáo hội chúng ta cần làm chính là sự truyền thông tin phổ cập đến các tự viện trong cả nước ý thức đươc việc bảo tồn di sản mà chúng ta đang có, cũng như phát triển nó bằng cách nhân bản những di sản đó để truyền bá giá trị của di sản đó.
BS. ĐỖ HỒNG NGỌC:
Hiện nay phong trào hướng dẫn thiền, yoga và dưỡng sinh ở xã hội bắt đầu có sự lạm dụng và đi quá đà, thậm chí đi sâu vào phần kỹ thuật nhưng thiếu phần tâm linh. Do đó, Phật giáo nên khai thác và nhấn mạnh đến phần tâm linh, không nên dừng lại ở phần kỹ thuật. Ví dụ, chúng ta nói về thở, nhưng qua sự thở chúng ta thấy được sự vô thường, sanh diệt, sự bình yên, tự tại và phải thấy được mình và cây cỏ là một, với những sinh vật là một, tức là phải vươn lên một mức khác, chứ không dừng ở kỹ thuật. Ví như, người tập yoga được hướng dẫn, phải co tay phải, duỗi tay trái, co chân duỗi chân nhiều cách, đó là kỹ thuật. Phật giáo đi thêm một tầng cao nữa đó là tâm linh, ngồi thiền của Phật giáo không thể co chân đánh tay, đó chính là văn hóa thiền Phật giáo, mà chúng ta cần chú ý.
Thiền học dần được phổ biến trong đời sống, và làm thế nào mang lại hiệu quả, cho những người thực tập trong nhiều hoàn cảnh, chính là họ phải được nghe và được hướng dẫn thiền một cách đúng đắn, chắc chắn họ sẽ thành công trong khi thực hành và được an lạc. Bởi vì, hiện nay y học đã đem ứng dụng thiền trong các bệnh viện, trung tâm, nơi những người có bệnh. Ví dụ, như hiện nay những thanh thiếu niên nam nữ nghiện ma túy đã được hướng dẫn, và dần dần đi vào phổ cập. Tuy nhiên, ở đây việc phổ cập thiền vào xã hội chính là các Thầy phải thấy được, thiền không chỉ dành riêng cho các Thầy, ở trong Thiền môn, mà nên phổ cập, và tạo điều kiện giúp người khác tiếp cận, thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho xã hội, lúc đó chúng ta sẽ có sự sảng khoái của xã hội. Sảng khoái ở đây chỉ người có sức khỏe. Sảng khoái trong thể chất và tinh thần trong đời sống xã hội.
(nguồn: Bản tin số 5 - Tuần văn hóa Phật giáo)



